Phật Giáo bắt nguồn từ đâu? 7 điều nên biết về Phật Giáo và văn hóa Việt Nam hiện nay.

Tổng hợp những thông tin về Phật giáo ở Việt Nam

Tính đến thời điểm này Đạo Phật đã truyền bá vào Việt Nam gần 2000 năm, cùng trải qua những biến cố thăng trầm trong lịch sử dân tộc, và có sức sống bền bỉ, gắn bó với nhịp sống của người dân Việt Nam.

Phật giáo Việt Nam hiện nay vừa giữ được những giáo lý căn bản của Đạo Phật ban đầu vừa có sự dung hòa phù hợp với văn hóa người Việt.

Để giúp cho người đọc hiểu rõ hơn về đạo Phật nói chung và Phật giáo ở Việt Nam nói riêng, cơ sở điêu khắc tượng Phật Trần Gia xin cung cấp các thông tin qua bài viết dưới đây.

1/ Phật giáo là gì? Phật giáo bắt nguồn ( xuất phát ) từ đâu?

Phật giáo hay Đạo Phật là một tôn giáo hay nói đúng hơn là hệ thống triết học gồm các giáo lý, tư tưởng triết học đầy đủ về nhân sinh quan , thế giới quan cùng phương pháp tu tập dựa trên lời dạy của nhân vật lịch sử có tên là Siddhartha Gautama dịch thuần Việt là Tất đạt đa Cồ-đàm.

Đạo Phật dựa trên lời dạy của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni

Phật giáo có nguồn gốc từ đâu? Phật giáo ra đời năm nào?

Theo các tài liệu khảo cổ học đã chứng minh, Đạo Phật ra đời khoảng thế kỷ VI trước công nguyên ở vùng phía Tây Bắc Ấn do thái tử Siddhartha Gautama sáng lập hiệu là Thích Ca Mâu Ni.

2/ Phật giáo ra đời như thế nào?

Trong thời điểm bấy giờ xã hội Ấn Độ rất rối ren. Đây là thời kỳ chiếm hữu nô lệ, phân chia giai cấp sâu sắc. Xã hội chia làm 4 giai cấp:

Bà la môn: địa vị cao nhất

Sát đế ly : thuộc dòng họ vua quan, quý tộc

Vệ xá: những người giàu có, buôn bán

Thủ đà la: giai cấp nô lệ

Mâu thuẫn của các giai cấp trên khá gay gắt với những cuộc đấu tranh toàn xã hội .

Đặc biệt đây cũng là giai đoạn diễn ra sự đấu tranh giữa trường phái duy vật và duy tâm, và giữa các tôn giáo.

Thời điểm đó có sự thống trị của đạo Bà la môn và có sự xuất hiện các đạo giáo khác. Những hoàn cảnh đó đã góp phần sự ra đời của đạo Phật.

Phật giáo có mấy phái ?

Sau khi Tất đạt đa qua đời thì Phật giáo được phân chia thành nhiều nhánh với nhiều hệ tư tưởng khác nhau gồm các trường phái sau:

Phật giáo nguyên thủy:

Hay được gọi là Phật giáo Nam tông hay Phật giáo Tiểu Thừa. Đây là hệ thống bài bản kinh điển được xem gần nhất với giáo lý nguyên thủy của đạo Phật.

Trường phái này phát triển khá mạnh ở Sri Lanka và Đông Nam Á.

Phật giáo Phát Triển:

Hay còn gọi là Phật giáo Bắc tông , Phật giáo Đại thừa. Trường phái này phát triển mạnh ở Đông Bắc Á và được phân chia các nhánh nhỏ hơn như Tịnh độ tông, Thiền tông.

Phật giáo Chân ngôn:

Hay còn gọi là Phật giáo Mật Tông hoặc là Phật giáo Kim Cường Thừa.

Trường phái này phát triển ở Tây Tạng, Mông Cổ, Nepal, Bhutan.

Hiện nay phật giáo được phát triển khắp nơi trên thế giới, chỉ tính con số quy y tam bảo đã vào khoảng 350 triệu đến 750 triệu người, còn con số có đức tin vào Phật giáo thì đông hơn rất nhiều.

 

Phật giáo hướng đến việc con người tự giác ngộ để thoát khổ

Có thể nói, Phật giáo duy lý và vô thần, hướng đến việc con người tự giác ngộ. Theo ý niệm của Phật giáo thì Phật là con người tự giác ngộ để có sự nhìn nhận đúng đắn về con người và thế giới xung quanh và đạt được sự giải thoát.

Và bất kỳ ai cũng có thể đắc quả vị Phật nếu họ dùng trí tuệ của mình vượt qua sự vô minh, nhận thức đúng đắn bản ngã và thế giới thì tự giác ngộ và giải thoát. Hệ thống triết lý của Phật giáo mang tính khai sáng giúp con người tới Chân- Thiện – Mỹ.

Hầu hết các trường phái Phật giáo khác nhau ở quan điểm, phương pháp tu tập để giác ngộ, giải thoát.

3/ Giáo lý của đạo Phật:

Những giáo lý của đạo Phật đều được nhắc rõ ràng trong kinh sách, tuy nhiên có nhiều cách lý giải khác nhau bởi nhiều trường phái khách nhau tạo nên hệ thống triết lý khá phức tạp.

Giáo pháp của Phật giáo được tập hợp trong Tam tạng gồm:

Kinh tạng: là những bài giảng của chính Đức Phật hoặc các đại đệ tử của Ngài. Kinh tạng được chia làm 5 bộ: Trường bộ kinh, Trung bộ kinh, Tương ưng, bộ kinh, Tăng chi bộ kinh, Tiểu bộ kinh.

Luật tạng: Được ra đời chỉ vài mươi năm sau khi Đức Phật nhập Niết bàn, là tạng sách cổ nhất, nội dung thể hiện lịch sử phát triển của Tăng-già và các giới luật của người xuất gia.

Luận tạng: Hình thành khá trễ, thể hiện các quan niệm đạo Phật về triết học và tâm lý học.

Những giáo lý của Phật giáo được thể hiện trong các luận điểm như:

Tứ Thánh đế ( Tứ Diệu Đế): Đây là tư tưởng căn bản, côt lõi của Phật pháp.

Bốn chân lý giúp chúng ta nhận biết bản chất của sự khổ đau trong luân hồi, nguyên nhân và phương pháp giải trừ đau khổ.

Đức phật có dạy rằng cuộc đời có khổ đau ( gọi gọi là khổ đế) , có nguyên nhân ( gọi là Tập đế), có thể dập tắt ( gọi là Diệt đế), và con đường bát chánh đạo- Trung đạo sẽ giúp diệt khổ ( gọi là Đạo đế).

Tứ đế thể hiện đầy đủ về quá trình nhận thức các loại khổ đau, nguyên nhân, trạng thái không còn khổ đau và con đường thoát khổ.

Và để thoát khổ được thì phải nhận thức đúng đắn về đau khổ. Đó là quan điểm triết học mang tính duy lý.

Tứ thánh đế là giáo lý cốt lõi của Phật pháp

Khổ đế: những khổ đau về: sinh lão, bệnh, tử; khổ tâm gồm: sống với người mình ghét, chia lìa người thân, những mong muốn mà không được như ý, chấp vào thân ngũ uẩn. Trước hết cần phải thừa nhận khổ đau, không nên trốn tránh, phớt lờ hay cường điệu hóa, nhận thức về khổ đau một cách toàn diện, sâu sắc.

Tập đế: Chính là nguyên nhân của khổ đau bao gồm: tham ái, sân hận, si mê và chấp thủ. Khi tìm được đúng nguyên nhân đó trong luân hồi chuyển kiếp do vô minh và ái dục được chỉ rõ trong 12 nhân duyên.

Diệt đế: Đó là trạng trái không còn khổ đau, là sự giải thoát tận cùng chân thực, đó là hạnh phúc khi chấm dứt sự vô minh hay dục vọng của con người.

Đạo đế: Đây là chân lý con đường diệt khổ hay chính xác là phương pháp để diệt khổ gồm tám nhánh- bát chính đạo và xoay xung quanh ba trụ cột lớn  Trí tuệ- Đạo đức- Thiền định. Pháp môn để giúp đến con đường bát chi thánh đạo là 37 phẩm trợ đạo.

Bát chính đạo:

Đối với nhóm trí tuệ sẽ gồm có:

Chính kiến: Sự hiểu biết chân chính về nhân quả, duyên khởi, các sự vật hiện tượng một cách khách quan, không chi phối bởi cảm xúc, cảm tính, hiểu rõ 4 chân lý về khổ và cách thoát khổ. Từ đó có những cách cư xử không làm khổ bản thân và mọi người xung quanh.

Chính tư duy: Suy nghĩ đến việc từ bỏ chấp trước, ly tham, đoạn diệt, an tính, thắng trí và giác ngộ.

Đối với nhóm đạo đức:

Chính ngữ: Nói lời chân chính, sự thật, đoàn kết, mang tính xây dựng, đem lại sự an vui cho người khác.

Chính nghiệp: có nghĩa là hành vi chân chính nghĩa là không sát sinh, không trộm cắp, không ngoại tình. Nên thực hiện: chia sẻ cho những người kém may mắn hơn mình một cách hợp pháp, sống chung thủy một vợ một chồng, trọng thân.

Chính mạng: Có nghề nghiệp chân chính để nuôi sống bản thân, không nên làm nghề đồ tể, không sản xuất, buôn bán chất độc, gây nghiện.

Chính tinh tấn: Kiên trì làm những việc thiện, tiếp tục làm những việc thiện dự định làm, từ bỏ những việc bất thiện đang làm và dự định làm.

Đối với nhóm thiền định:

Chính niệm: nghĩa là làm chủ trong các giác quan trong cách đi, đứng, nằm, ngồi, nói, nín, thức, ngủ, làm chủ cảm xúc và thái độ sống…

Chính định: có 4 tầng nấc thiền: sơ thiền, nhị thiền, tam thiền và tứ thiền cùng với những phương pháp bổ trợ như tứ niệm xứ, quán hơi thở. Sau khi đạt nấc cao nhất sẽ dẫn tâm về Tam minh gồm: Túc mạng minh, Thiên nhãn minh, Lậu tận minh.

Khi chứng xong, hành giả giải thoát hoàn toàn đắc quả vị A-la-hán..

Ngoài ra, trong đạo Phật còn có khái niệm về nhân quả, luân hồi.

Nhân quả: chính là mọi sự việc đều là kết quả của nguyên nhân trước đó.

Nhân hay còn gọi là nghiệp, khi gieo nghiệp thì sẽ gặt quả. Từ nhân đến quả thì có yếu tố duyên. Nếu duyên có điều kiện thuận lợi thì thuận duyên, còn cản trở là nghịch duyên.

Tương tác về nhân quả khá phức tạp diễn ra liên tục hoặc song song gọi là trùng trùng duyên khởi.

Các nguyên nhân cùng loại nhưng trái chiều sẽ bù trừ cho nhau và cái nào mạnh hơn sẽ tạo ra kết quả.

Điều này có  nghĩa là nghiệp đã gieo có thể chuyển hóa được nếu gieo nhân mới đối lập với nhân cũ.

Nhân quả là quy luật tự nhiên khách quan

Quan hệ nhân quả là quy luật tự nhiên khách quan, không phụ thuộc vào ý thức con người. Dù con người có tin hay không thì quy luật vẫn vận hành và chi phối vạn vật.

Luân hồi: Đó là quan hệ nhân quả xuyên suốt thời gian. Điều này chỉ ra rằng việc tâm thức trải qua nhiều kiếp sống.

Chết là hết 1 kiếp sống, còn tâm thức sẽ mang theo nghiệp đi tái sinh ở kiếp mới. Và hình thức có thể khác nhau cũng như sự chuyển đổi giữa các loài hoặc các thế giới như cõi súc sinh, cõi người, cõi a tu la, cõi trời. Quan hệ nhân quả sẽ tác động và chi phối cách thức luân hồi.

Còn luân hồi là còn khổ. Do vậy đạo Phật chỉ ra rằng chỉ có giác khổ thì mới thoát khỏi luân hồi nghĩa là biết cách đoạn diệt để không còn quan hệ nhân quả.

Ngoài ra, đạo Phật còn đưa ra những vấn đề như siêu hình học, nhận thức luận và thế giới quan để giúp mọi người hình dung rõ hơn về sự kết nối giữa vạn vật trong vũ trụ một cách khăng khít.

4/ Phật giáo và văn hóa Việt Nam :

Với sự phát triển của đạo Phật trên khắp thế giới đặc biệt ở Châu Á, Phật giáo cũng tìm chỗ đứng cho mình trong xã hội Việt Nam.

Vậy, Phật giáo du nhập vào Việt Nam khi nào?

Phật giáo ở Việt Nam được truyền vào từ đầu Công nguyên bằng hai con đường gồm đường thủy thông qua việc mua bán trao đổi với các thương gia Ấn Độ, đường Bộ thông qua giao lưu văn hóa, buôn bán với Trung Quốc.

Do vậy Phật giáo ở Việt Nam mang sắc thái Ấn Độ và Trung Quốc.

Giáo lý của Đạo Phật bình đẳng, bác ái ,… nên thân thuộc với người dân Việt Nam.

Hơn nữa thời điểm này có sự tồn tại của tín ngưỡng bản địa của những người dân nông nghiệp lúa nước, sự hiển diện của Nho giáo, Đạo lão mà Trung quốc truyền vào tuy nhiên vẫn có những khuyết thiếu.

Và khi đạo Phật truyền vào đã bổ sung những chỗ thiếu hụt đó. Nhờ vậy Phật giáo Việt Nam được giao thoa với tín ngưỡng bản địa.

Trải qua 2000 năm với các thời kỳ lịch sử của đất nước, Phật giáo đã ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống kinh tế, văn hóa xã hội.

Phật giáo vào Việt Nam không đơn thuần là sự kiện tôn giáo mà còn là văn hóa.

Chính nhờ sự ảnh hưởng văn hóa của Ấn Độ nên tạo ra sự đối trọng với ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa, ngăn chặn khuynh hướng đồng hóa văn minh Trung Quốc tạo nên sự khác biệt văn hóa Việt Nam.

Thời nhà Đinh- TIền Lê hay Lý Trần, Phật giáo được xem là quốc giáo, ảnh hưởng đến mọi vấn đề trong cuộc sống.

Đến thời Hậu Lê, Nho giáo trở thành quốc giáo và Phật giáo suy thoái.

Đến cuối thế kỷ XVIII, vua Quang Trung ra sức chấn hưng Phật giáo nhưng không nhiều kết quả.

Phật giáo ở Việt Nam thời Trần phát triển mạnh

Và đến thế kỷ 20, Phật giáo ở Việt Nam lại phát triển mạnh mẽ đặc biệt tại miền Nam.

5/ Đặc điểm nổi bật của Phật giáo ở Việt Nam

Trên con đường hội nhập và phát triển tại Việt Nam, Phật giáo luôn thực hiện hai điều là khế lý và khế cơ nghĩa là đảm bảo giữ được chân lý, tư tưởng gốc Phật giáo đồng thời đảm bảo phù hợp với phong tục quốc gia.

Do vậy Phật giáo ở Việt Nam có những đặc điểm sau:

Tính dung hòa:

Dung hòa giữa Phật giáo với tín ngưỡng bản địa:

Đối với Phật giáo thờ Phật trong chùa, còn người Việt thường có phong tục thờ Thần trong miếu và thờ Mẫu trong phủ, với 4 bị thần như: Mây- Mưa- Sấm- Chớp.

Và 4 vị thần được Phật giáo hóa gồm tượng Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi và Pháp Điện.

Đặc biệt hệ thống thờ tổng hợp với nhau tạo nên những ngôi chùa thờ theo “ tiền Phật, hậu Thần ( Mẫu). Do vậy người dẫn vào trong một số ngôi chùa sẽ dễ dàng thấy Phật, ThầnThánh, Mẫu, thành hoàng thổ địa,…

Dung hòa các tông phái Phật giáo:

Sau khi du nhập vào Việt Nam, các tông phái lại giao hòa với nhau.

Ví dụ những vị thiền sư đời Lý như Vạn Hạnh ,.. giỏi pháp thuật, thần thông biến hóa; thiền tông kết hợp với Tịnh Độ Tông khi tụng niệm phật A di đà và Bồ Tát.

Các chùa Phật giáo miền Bắc phong phú tượng Phật, Bồ tát, A la Hán với tông phái khác nhau.

Các chùa miền Nam có xu hướng hài hòa giữa hai truyền thống truyền thừa,…

Dung hòa giữa Phật giáo với đạo Khổng, đạo Lão:

Tín ngưỡng truyền thống đầu tiên của người Việt tiếp nhận Phật giáo, sau Đạo Giáo và cuối cùng là Nho giáo để tạo thành Tam giáo đồng nguyên và Tam giáo đồng quy.

Ba tôn giáo này đã tương trợ lẫn nhau như Nho giáo giúp tổ chức xã hội, đạo giáo lo về con người, Phật giáo lo về kiếp sau con người.

Do vậy nhiều hình ảnh tam giáo tổ sư in đậm trong tâm trí người Việt với Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ở giữa, bên trái là Lão Tử, bên Phải là Khổng Tử.

Phật giáo ảnh hưởng mẫu hệ:

Đó là lý do mà Phật giáo ở Việt Nam có phần nữ tính hóa.

Nhiều vị phật Ấn Độ với hình tướng Nam nhưng vào Việt Nam thành Phật bà như mẹ Quan Âm.

Ngoài ra trong đời sống người Việt còn có những vị Phật Mẫu riêng như Phật Mẫu, Phật Bà Chùa Hương, Quan Âm Thị Kính…

6/ Những tôn giáo của Việt Nam ảnh hưởng từ đạo Phật

Hệ Phái Khất Sĩ Việt Nam:

Đây là một tông phái Phật giáo nội sinh do Tổ sư Minh Đăng Quang khởi lập từ năm 1944 với mục đích là nối truyền Thích ca chính pháp.

Sự kết hợp giữa Đại Thừa và Nam Truyền gần gũi với lời dạy của Đức Phật.
Tông phái này có vai trò quan trọng trong sự phát triển của Phật giáo ở Việt Nam nửa sau thế kỷ XX.

Bửu Sơn Kỳ Hương

Do Đoàn Minh Huyên khởi xướng năm 1849 là giáo phái dựa vạo sự tích Bồ Tát di Lạc xuống rao giảng về hội Long Hoa.

Bửu Sơn Kỳ Hương đơn giản các triết lý sâu xa của đạo Phật đề cao tứ ân, tôn người lập đạo là Phật thầy Tây An.

Tứ Ân Hiếu Nghĩa

Hay còn được gọi là đạo Hiếu Nghĩa do Ngô Lợi khai sáng.

Thời gian đầu, đạo thuộc một trong những phong trào Cần Vương, mục đích là dùng hình thức tôn giáo để che mắt thực dân Pháp.

Nhưng từ khi Vua Hàm Nghi bị đày, Ngô Lợi mất thì chỉ còn lại những hoạt động tín ngưỡng.

Đạo Hòa Hảo:

Đây là giáo phái dựa trên triết lý của đạo Phật kết hợp với các bài kệ do Đức Huỳnh Phú Sổ sáng lập năm 1939, lấy pháp môn Tịnh Độ Tông và tu hành tại gia. Đây là tông phái thu hút đông tín đồ tham gia chủ yếu ở Tây Nam Bộ.

Tịnh độ cư sĩ Phật Hội:

Do Đức Tôn Sư Minh Trí sáng lập. Đạo dựa trên pháp môn tịnh độ, lấy giáo lý của Đức Phật làm gốc và diễn đạt dễ hiểu phù hợp với đa số quần chúng nhân dân.

Phương châm hành đạo là Phước Huệ Song Tu, chữa bệnh chăm sóc sức khỏe bằng thuốc Đông y để hành đạo gọi là Phước, và lấy pháp môn niệm phật và kinh A di Đà làm Huệ

7/ Phật giáo Việt Nam hiện nay

Từ bao đời nay các vị thiền sư hoặc các vị anh hùng dân tộc Phật tử đã thấm nhuần lòng yêu nước, tạo nên sự mật thiết giữa phật giáo Việt Nam với tư tưởng Việt Nam.

Và thực tế trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, nhiều chùa chiền đã trở thành cơ sở nuôi dưỡng nhiều chiến sĩ cách mạng.

Có thể nói Phật giáo đã nhập thế cùng lịch sử dân tộc để giúp nhân dân tìm được cuộc sống tự do, bình đẳng của mình trong xã hội mới.

Phật giáo đã giúp cho người dân trở về gốc lương thiện, tốt đời đẹp đạo, biết ơn với tổ quốc, đồng bào, các vị anh hùng dân tộc và hun đúc một tư tưởng yêu nước nồng nàn.

Phật giáo Việt Nam hiện nay hướng con người đến sự chuẩn mực

Không chỉ có vậy, phật giáo Việt Nam hiện nay còn hòa mình vào mọi mặt trong cuộc sống của mỗi người dân, vào trong từng lĩnh vực để xây dựng cuộc sống mới tốt đẹp.

Phật giáo nhập thế vào các vấn đề xã hội: giúp con người sống hướng thiện hơn, giúp gia đình êm ấm hơn bởi Kinh Ca Thi La Việt mà Đức Phật dạy về cách đối nhân xử thế của vợ và chồng với nhau, cũng như đề cao chữ hiếu trong mối quan hệ con cháu với ông bà cha mẹ và tổ tiên.

Hiện nay cũng nhiều cặp đôi chọn cách thức cưới tại chùa theo nghi thức Phật giáo, được gọi là lễ Hằng thuận.

Đây chính là nét văn hóa tâm linh đáng quý khi Phật giáo nhập thế vào vấn đề xã hội.

Đặc biệt với giá trị cốt lõi tâm từ bi, cứu khổ cứu nạn, nhiều tổ chức từ thiện Phật giáo đã tích cực tham gia công tác từ thiện đem lại những miếng cơm manh áo hay những mái nhà tình nghĩa cho các mảnh đời khốn khó.

Lòng từ bi, yêu thương được lan tỏa đến nhiều mảnh đời nghèo khó

Đối với vấn đề giáo dục, Phật giáo không đề cao niềm tin mù quáng mà lấy chính kiến làm nền tảng cho sự giải thoát.

Đó là sự động lực để thúc đẩy sự phát triển xã hội.

Chỉ khi con người có trí tuệ và từ bi mới tránh xa các tệ nạn xã hội , bạo lực học đường, bạo lực trong gia đình, mưu mô, thủ đoạn tranh giành lợi ích.

Do vậy Phật giáo Việt Nam ngày nay luôn cần được giữ gìn và được lan tỏa đến mọi người thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.

Những di sản văn hóa của Phật giáo đã đem lại sắc thái dân tộc, mang đến sự đa dạng trong bản sắc văn hóa việt.

Hiện nay, nhiều tổ chức xã hội quyên góp công đức để khôi phục, tôn tạo chùa chiền…

Những việc này không chỉ mang ý nghĩa tâm linh mà còn là danh thắng nổi tiếng để du khách thập phương tham quan và chiêm ngưỡng.

Có thể nói trải qua bao nhiêu thời gian, chứng kiến mọi sự đổi thay của xã hội, thăng trầm lịch sử, nhưng Phật giáo Việt Nam luôn đồng hành cùng dân tộc, cùng vun bồi những giá trị đích thức của cuộc sống.

Mời quý Phật tử chiêm ngưỡng video tổng hợp những hình ảnh tượng Phật đẹp nhất do cơ sở điêu khắc Trần Gia tôn tạo:

Nhận xét tích cực từ  khách hàng của Tượng Phật Trần Gia:

Mời quý Phật tử cùng chiêm ngưỡng hết các mẫu tượng Phật đẹp nhất do điêu khắc Trần Gia tôn tạo nhé:


* Tượng Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni


* Tượng Phật Bà Quan Thế Âm Bồ Tát


* Tượng Phật Địa Tạng Vương Bồ Tát.


* Tượng Phật Văn Thù Sư Lợi – Phổ Hiền Bồ Tát .


* Tượng Phật A Di Đà.


* Tượng Đạt Ma Sư Tổ.


* Tượng Phật Di Lặc Bồ Tát.


* Tượng Tiêu Diện Đại Sĩ – Vi Đà Hộ Pháp.


  • Cơ sở điêu khắc tượng Phật Trần Gia nhận tôn tạo các mẫu tượng Phật ( số lượng 5-10 mẫu / tháng tùy vào kích thước ) theo yêu cầu của quý khách.
  • Nhận thi công trên nhiều chất liệu: nhựa composite , gỗ, đá , đồng , xi măng…
  • Tượng được sản xuất theo đơn đặt hàng ( cơ sở chỉ sản xuất khoảng 50 tượng / tháng ) quý khách vui lòng liên hệ để được sắp xếp thời gian sản xuất phù hợp nhất.
  • Tượng có thể sơn vẽ theo ý thích của quý khách: sơn một màu, sơn vẽ nhiều màu, dát vàng, giả đồng, giả đá, giả gỗ…
  • Bao bọc và đóng kiện gỗ cẩn thận , đảm bảo trong quá trình vận chuyển đi nước ngoài và trong nước.
  • Hỗ trợ vận chuyển miễn phí tại Việt Nam.

* Thời gian hoàn thiện tôn tượng từ 5 -30 ngày kể từ ngày quý khách đặt hàng tùy theo mẫu và số lượng đơn hàng vào thời điểm đó Trần Gia đã nhận.

*  Đối với tôn tượng tạo mẫu mới, thời gian dao động từ 1-3 tháng tùy vào kích thước và số lượng tôn tượng.

Mọi chi tiết quý Sư Thầy, cô chú thắc mắc xin liên hệ cơ sở điêu khắc Trần Gia để được sắp xếp lịch sản xuất phù hợp nhất:

  • Hotline             :   0931.47.07.26 ( zalo ,viber )
  • Email               :   dieukhactrangia@gmail.com
  • Chi nhánh 1    :   27 Đường số 1, khu phố 5, P. Hiệp Bình Phước, Thủ Đức, TP.HCM.
  • Chi nhánh 2    :   57 Nguyễn Chí Thanh, Nghĩa Lập, Đơn Dương, Lâm Đồng.

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *