PHẬT BÀ QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT: HIỆN THÂN CỦA CỨU ĐỘ TỰ TẠI

PHẬT QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT: HIỆN THÂN CỦA CỨU ĐỘ TỰ TẠI

Quán Thế Âm, tiếng Phạn gọi là Avalokitévara, Nghĩa là vị Bồ Tát quán sát âm thanh đau khổ của thế gian kêu cầu mà cứu độ một cách tự tại. Do Ngài quán sát âm thanh một cách tự tại mà chứng được bản thể chân thường của vũ trụ. Nơi nào, lúc nào trong vũ trụ có tiếng chúng sinh đau khổ, kêu cầu thì Ngài hiện thân cứu độ rất tự tại, cho nên Ngài cũng có tên là Quán Tự Tại, Quán Thế Tự Tại…

Bồ-tát Quán Âm lần đầu tiên được nhắc đến trong kinh Diệu pháp liên hoa (Saddharma Pundarika Sutra), phẩm Phổ môn, cùng trong quyển ít biết hơn là Bi hoa kinh (Karuna Pundarika Sutra).

Kinh Pháp hoa xuất hiện vào đầu thế kỷ I và được Đại sư Cưu-ma-la-thập dịch sang Hán ngữ vào năm 406.

Theo phẩm Phổ môn, cũng như trong kinh Thủ lăng nghiêm (Surangama Sutra), Quán Âm Bồ-tát có thể hóa thân 33 hình tướng để cứu độ chúng sanh trong mọi hoàn cảnh hoạn nạn hiểm nguy hay tâm linh điên đảo, bịnh hoạn.

Theo Bi hoa kinh, thì Quán Âm được xem như là hóa thân nơi cõi trần gian này của Đức Phật Vô Lượng Thọ thường tồn, bất sanh bất diệt; bởi vì Quán Âm là vị hướng dẫn linh thức của người quá vãng – lúc còn sống với đức tin và hạnh nguyện sâu xa một lòng niệm danh hiệu Phật, được thác sanh về cõi Cực lạc của Đức Phật A Di Đà.

Ngài cùng Bồ-tát Đại Thế Chí – biểu hiện cho trí tuệ – hầu cận hai bên tả hữu Phật A Di Đà, cả ba Ngài là Tam Tôn của Tịnh độ giới.

Cuộc đời tu tập của Bồ Tát Quan Thế Âm theo kinh Bi hoa:

“Về thuở quá khứ lâu xa về trước, Đức Quán Thế Âm là một vị thái tử tên là Bất Huyền, con của vua Vô Tránh Niệm, thời ấy có Đức Phật ra đời tên là Bảo Tạng Như Lai. Vua Vô Tránh Niệm hết lòng sùng bái đạo Phật. Vua liền sắm đủ lễ vật quý báu dâng cúng Phật và chư Tăng trong ba tháng hạ, vua cũng khuyến khích các quan văn, vương tử, vương tôn, triều đình quyến thuộc theo vua cúng dường. Thái tử Bất Huyền vâng lệnh vua cha, cũng dâng cúng đủ các trân cam mỹ vị, hết lòng thành kính Đức Phật và chúng Tăng trong ba tháng như vậy.

Lúc ấy, có vị đại thần tên là Bảo Hải, tức là thân phụ của Phật Bảo Tạng, khuyên thái tử Bất Huyền nên lập nguyện nhờ công đức cúng dường này mà cầu quả báu Vô thượng Bồ đề, không nên cầu quả ở cõi trời, cõi người này, vì quả báu phước cõi ấy là phước báu hữu hạn, dù chúng ta có lên trời rồi, đến khi hết phước cũng phải sa đọa. Sao bằng đem công đức cúng dường này hướng về quả báu vô thượng bồ đề mới là phước báu chân thật vĩnh hằng.

Nghe đại thần khuyên như vậy, Thái tử liền đến trước Phật Bảo Tạng phát đại thệ nguyện: “nguyện xin nhờ công đức cúng dường này cầu quả vô thượng bồ đề. Con nguyện xin trong lúc tu đạo tự lợi, lợi tha, nếu có chúng sinh nào lâm vào tai nạn, không thể tự cứu chữa được, không nơi nương nhờ, hễ niệm đến danh hệu con, con liền đủ sức thần thông đến cứu độ ngay. Nếu lời nguyện ấy không thành, con thề không chứng quả Bồ đề. Con xin phát đại thệ nguyện tu đạo Bồ Tát cho đến cùng tận đời vị lai, trãi qua vô số kiếp, khi phụ vương con (vua Vô Tránh Niệm) thành Phật hiệu A Di Đà ở thế giới Cực Lạc thì con sẽ làm thị giả hầu hạ Ngài cho đến khi Chánh Pháp Ngài tận diệt con mới chứng quả Bồ đề. Con nguyện xin Đức Thế Tôn và mười phương chư Phật thụ ký cho con như vậy”.

Đức Bảo Tạng Như Lai thọ ký cho thái tử và nói rằng: “Do quán sát chúng sinh trong vô số thế giới đều vì tội nghiệp mà phải chịu quả báu đau khổ nên ngươi phát bi tâm, ngươi lại nguyện quan sát nghe được tiêng kêu cầu đau khổ của thế gian để đến cứu độ. Nay ta thọ ký cho ngươi hiệu là Quán Thế Âm. Ngươi sẽ giáo hoá cho vô lượng chúng sinh thoát khỏi khổ não, trong khi tu đạo, ngươi phải làm mọi Phật sự để lợi ích chúng sinh”.

Do đó, sau khi Phật A Di Đà nhập diệt rồi, cõi Cực Lạc sẽ đổi tên là Nhất Thế Trân Bảo Sở Thành Tựu, càng thêm tốt đẹp hơn trước nữa. Khi ấy, đang lúc ban đêm, trong khoảnh khắc, tất cả mọi thứ trang nghiêm đều hiện ra giữa không trung, tức thì ngươi thành Phật hiệu là “Biến Xuất Nhất Thế Quang Minh Công Đức Sơn Vương Như Lai, sống lâu đến chín mươi sáu ức na do tha kiếp. Sau khi ngươi diệt độ rồi, chánh pháp sẽ còn lưu truyền lại sáu mươi ba ức kiếp nữa”.

Thái tử nghe Phật thọ ký rồi, lòng vô cùng hoan hỷ và bạch rằng: “như lời nguyện của con được hoàn toàn viên mãn thì đối với con còn hạnh phúc nào bằng. Nay con xin nguyện mười phương chư Phật cũng thọ ký cho con như thế, làm cho tất cả thế giới đều rung chuyển như tiếng âm nhạc, ai nghe cũng được giải thoát”. Thái tử bạch rồi, cúi đầu đảnh lễ Đức Phật.

Bấy giờ, các thế giới tự nhiên rung chuyển, phát ra tiếng hòa nhã như âm nhạc, ai nghe cũng thân tâm thanh tịnh, dục vọng không còn. Tiếp đó là các Đức Phật trong mười phương thế giới cũng đồng thanh thọ ký cho Quán Thế Âm Bồ Tát rằng: “Trong thời kiếp Thiên Trú, ở thế giới Tân Đề Lam có đức Bảo Tạng Như Lai ra đời, thái tử Bất Huyền, con vua Vô Tránh Niệm phát tâm cúng Phật và chúng Tăng ba tháng. Nhờ công đức ấy, trãi qua vô số kiếp về sau, thái tử sẽ thành Phật hiệu là “Biến Xuất Nhất Thế Công Đức Sơn Vương Như Lai” ở thế giới Trân Bảo Sở Thành Tựu.

Nghe chư Phật thọ ký xong, thái tử hoan hỷ vô cùng. Từ đó, trãi qua vô số kiếp về sau, Ngài tinh tấn tu đạo Bồ Tát, cứu độ tất cả chúng sinh, không bao giờ quên đại bi tâm của Ngài.

Kinh Đại Phương Đẳng Như Lai Tạng và kinh Đại Phương Quảng Như Lai nói rằng: Ngài cùng Bồ Tát Đại Thế Chí vì lòng từ bi, thệ nguyện dấn thân vào con đường phụng sự, đem lại hạnh phúc, an lạc cho chúng sinh, không chịu vào cảnh giới tối thuợng của chư Phật.”

 Với nhiều đức năng, Bồ-tát Quán Âm được biểu trưng qua nhiều hình ảnh khác nhau, như Quán Âm bốn tay, Quán Âm thập nhứt diện, Quán Âm ngàn mắt ngàn tay, v.v…

Ngài còn được tôn sùng như là trú xứ tại rừng trúc tía (Quán Âm tỷ trúc), là chủ tể biển Nam (Quán Âm Nam Hải), thường ban ơn cho phụ nữ hiếm muộn (Quán Âm tống tử), hay mặc áo trắng (Bạch y Quán Âm), thưởng thức ánh trăng rằm (Thủy nguyệt Quán Âm), v.v…; mỗi một danh hiệu như thế đều có sự tích ly kỳ.

Bốn cánh tay của Quán Âm tượng trưng cho Bốn tâm vô lượng (catvàri apramànàni) hay Bốn Phạm hạnh của Ngài, tức tâm Từ (maitrì), tâm Bi (karunà), tâm Hỷ (mudità) và tâm Xả (upeksà) vô lượng.

Chính Bốn tâm vô lượng này là phương tiện để Đại từ Đại bi Quán Thế Âm Bồ-tát cứu độ quần sanh.

Hình ảnh quen thuộc gắn liền với Quán Âm là bình nước cam-lộ thanh tịnh biểu trưng cho từ bi và trí tuệ, và nhành dương liễu là sự uyển chuyển ứng hóa trong mọi hoàn cảnh mà Đức Quán Âm dùng để tẩy sạch phiền não bịnh hoạn trong tâm chúng hữu tình, đưa họ đến giải thoát mọi trói buộc đày đọa của trần gian.

Trong khi đó, những hạt chuỗi Ngài đeo trên cổ tượng trưng cho số lượng chúng sanh và mỗi khi Ngài lần chuỗi là ý nghĩa Quán Âm đưa họ thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi.

Câu thần chú của Quán Âm là “Om Mani Padme Hum” (Án ma-ni bát-mê hồng); một khi người đang mắc nạn chí thành trì niệm đà-ra-ni này thì Đức Quán Âm tức thời hiện thân đến cứu độ ngay.

Phật tử tin tưởng là Quán Âm hiện đang ngự trị ở cõi Ta-bà kham nhẫn này, tại núi Phổ Đà, tỉnh Triết Giang, Trung Hoa, hoặc trên đỉnh Potala, vùng Lhasa, Tây Tạng. Potala chính là từ âm Phổ Đà.

Cả hai nơi này đều được xem như là thánh địa của Phật giáo để Phật tử chiêm bái, nhất là Phổ Đà sơn.

Trước thế kỷ VII, tại Ấn Độ và vùng Nam Á (Tích Lan) cùng Trung Á, tranh vẽ hay hình tượng Quán Âm diễn đạt Ngài là hiện thân của một đồng nam, có Đức Phật Di Đà ngự trên đỉnh đầu; rồi từ đó về sau các hình tượng điêu khắc về Quán Âm đều biểu lộ Ngài như thế, để làm ấn tướng phân biệt Ngài với các vị Bồ-tát khác.

Khi Tây Tạng giáo du nhập Trung Hoa vào đầu thế kỷ VIII trong thời nhà Đường, thì hình ảnh Chenrezig trong dạng người nữ bắt đầu xuất hiện và từ ấy đến nay, hình ảnh Bồ-tát trong dạng thiên nữ đắp y trắng tinh khiết được quý chuộng hơn và sự tôn thờ Ngài trở thành vô cùng phổ biến.

Đến thế kỷ IX thì hầu như trong mỗi tự viện Trung Hoa đều có tượng thờ Quán Âm Bồ-tát dạng người nữ.

Truyền thuyết về công chúa Diệu Thiện, lưu hành vào thế kỷ XIII, được cho là hiện thân của Quán Âm, một lần nữa gây ấn tượng cho Phật giáo đồ hoàn toàn tin tưởng Ngài là một người nữ.

Truyền thuyết về công chúa Diệu Thiện:

 “Tương truyền, vào thời Nam Bắc triều (420-589), vua Diệu Trang Vương có ba người con gái như hoa như ngọc lần lượt là Diệu Nhan, Diệu Âm và Diệu Thiện. Công chúa thứ ba Diệu Thiện vốn rất thông minh và được vua cha yêu thương nhất mực. Nàng không những là tuyệt sắc giai nhân mà còn có tấm lòng thiện lương, tính cách điềm tĩnh nhẹ nhàng và thông minh nhanh nhẹn.

Khi công chúa đến độ tuổi kết hôn, Diệu Trang Vương đích thân lựa chọn cho nàng những bậc anh tài tuấn tú, nhưng công chúa hết lần này tới lần khác đều một mực chối từ. Bởi Diệu Thiện không màng vinh hoa và hạnh phúc nơi thế gian trần tục, mà chỉ một lòng nhất tâm tín Phật và mong muốn tu luyện để cứu độ chúng sinh. Bởi vậy, nàng kiên quyết không chịu kết hôn.

Quyết định của công chúa khiến Diệu Trang Vương, một vị vua thô bạo và ngạo mạn vô cùng phẫn nộ. Ông không tin rằng cô con gái bé bỏng vốn sống trong nhung lụa có thể thật sự chịu khổ giữa chốn trần gian, thế nên ông đã đưa ra lời thách đố: “Bây giờ đang là tháng Chạp, nếu con có thể trồng hoa tươi nở khắp trên núi, ta sẽ cho phép con tu hành”.

Tháng Chạp với thời tiết giá lạnh thấu xương, tuyết rơi phủ kín mặt đất, đó cũng là khoảng thời gian người người đều háo hức chào đón năm mới. Còn công chúa Diệu Thiện phải một mình lên núi nơi tuyết trắng phủ đầy, vừa trồng từng cây non vừa thành tâm niệm Phật. Và không biết từ lúc nào, tất cả những cây non đã được phủ đầy trên ngọn núi tuyết.

Khi quay đầu nhìn lại, công chúa phát hiện tất cả đang nở rộ những đoá hoa rực rỡ. Từ đó về sau, người dân quanh vùng gọi ngọn núi nơi công chúa trồng hoa bằng cái tên Tháp Hoa Lĩnh và lưu truyền mãi cho tới ngày nay.

Diệu Trang Vương tức giận đốt chùa, mãnh hổ cứu nguy cho Diệu Thiện

Thế là công chúa Diệu Thiện đã được toại nguyện, nàng rời khỏi cung vua, tới tu hành tại chùa Bạch Tước, nằm dưới chân núi phía Đông của  chùa “Đại Hương Sơn” tại Diệu Châu, Thiểm Tây. Nàng không hề bước chân ra khỏi cửa, một lòng thành tâm lễ Phật. Thế nhưng, những người thành kính và quyết tâm tu hành đều phải trải qua ma nạn thử thách, và công chúa cũng vậy.

Diệu Thiện thuần khiết trong sáng là vậy, nhưng vẫn bị bôi nhọ bởi những lời đồn thổi ác ý của một số tên lưu manh vô lại. Lời đồn lưu truyền khắp bốn phương khiến Diệu Trang Vương cảm thấy mất mặt. Vua vô cùng phẫn nộ và cho rằng đó là tội không thể dung thứ, nên đã hạ lệnh cho người tới đốt chùa Bạch Tước nơi công chúa tu hành.

Chùa Bạch Tước chìm trong khói lửa ngút trời, cuối cùng chỉ còn lại một đống tro tàn, nhưng lạ thay công chúa Diệu Thiện vẫn ngồi tụng kinh niệm Phật bình an vô sự. Cơn phẫn nộ đã làm Diệu Trang Vương mất đi lý trí, ông không hề cảm nhận được sự thần thánh trang nghiêm của Phật Pháp.

Trong lúc tức giận, ông lại hạ lệnh dùng cực hình với Diệu Thiện. Thế nhưng khi đao phủ vừa vung tay lên thì cây đao bỗng gãy làm đôi. Vua Diệu Trang Vương lại hạ lệnh dùng hình thức treo cổ để xử tội, đúng lúc ấy xuất hiện một con hổ lớn nhảy vào pháp trường giải cứu cho công chúa.

Sau khi được cứu khỏi pháp trường, công chúa Diệu Thiện tới hồ Tĩnh Thủy để gột sạch bụi trần, chỉnh sửa lại xiêm y. Sau này, hồ nước nơi công chúa tẩy trần được đặt tên là hồ Phượng Hoàng, nơi cô chỉnh sửa xiêm y sau này được xây dựng thành Sơ Trang Lầu.

Công chúa Diệu Thiện tiếp tục đi vào trong núi, trên đường nàng gặp các khe suối chắn ngang. Công chúa thầm nghĩ, giá như nước suối kia chảy dưới những hòn đá thì khách bộ hành sẽ đi lại dễ dàng hơn. Công chúa vừa nhắm mắt tụng kinh, trong phạm vi ba dặm ở chân núi Đại Hương Sơn, các khe suối đều chảy ngầm qua những hòn đá, nối tiếp nhau không ngừng…

Bầu trời dần tối đen như mực, rất khó để nhìn thấy đường đi, công chúa liền tới bên một tảng đá và tự nói với mình: “Hòn đá này có thể sáng như ánh trăng để giúp ta soi đường thì tốt biết mấy”. Thế là hòn đá liền phát ra những tia sáng xanh giúp nàng nhìn thấy đường đi.

Ngày nay người ta gọi loại đá đó là Nguyệt Quang Nham, trong đêm nếu nhìn từ xa, có thể thấy những tia sáng xanh phát ra, tuy nhiên ban ngày thì nó không có gì khác biệt với những hòn đá thông thường.

Cuối cùng, công chúa Diệu Thiện tới tu hành trong một hang đá trên Đại Hương Sơn. Thời gian qua đi, cuối cùng công chúa cũng đã tu thành chính quả. Sau khi đắc chính quả, Diệu Thiện hiện thân thành Pháp tượng Quán Thế Âm Bồ Tát thần thánh trang nghiêm, thần thông đại hiển cứu độ thiện nam tín nữ, bao gồm cả cha và các chị gái của mình.

Những hoàng thân quốc thích cùng người dân nghèo khó đều vì sự tu thành đắc đạo của công chúa mà thành tâm lễ Phật. Sau khi Diệu Thiện tọa hóa, nhục thân của nàng nghìn năm không bị mục nát, càng tăng thêm tín tâm cho những tín đồ tu hành.

Chùa Đại Hương Sơn ở Diệu Châu trở thành đạo tràng Quán Thế Âm lâu đời nổi tiếng nhất ở Trung Quốc.

Những người tu luyện Phật Pháp đều tin rằng, công chúa Diệu Thiện là do Quán Thế Âm Bồ Tát chuyển thế. Người phải trải qua vô vàn khổ nạn khó khăn ở nhân gian để đắc được quả vị Bồ Tát.

Mục đích của Bồ Tát khi tới thế gian này không chỉ là cứu độ chúng sinh mà còn để lưu lại quá trình tu luyện của mình cho hậu thế. Người hy vọng nhân loại có thể gìn giữ đạo đức, chờ đợi Chuyển Luân Thánh Vương chuyển sinh xuống cứu độ thế gian.

Nếu bạn có cơ hội đến thăm tượng binh mã ở Thiểm Tây, hãy nhớ tới thăm Đại Hương Sơn ở Diệu Châu – đạo tràng của Quán Thế Âm Bồ Tát.

Cho dù bạn không tin Thần Phật, nhưng một người con gái vì để cứu vớt khổ nạn của chúng sinh mà quên đi những vinh hoa phú quý nơi thế tục, thật đáng để chúng ta kính ngưỡng…

Thật ra, quan niệm về Bồ-tát như là một sanh thể giác ngộ với hạnh nguyện cứu độ chúng sanh thì không còn bị gò bó hạn cuộc trong thể tướng nam hay nữ, già hay trẻ, người hay phi-nhân, vì Ngài có thể hóa hiện nhiều thân tướng như trong phẩm Phổ môn đã diễn đạt, nhưng vì lòng Từ bi của Ngài cứu độ chúng sanh không phân biệt, ví như lòng người mẹ hiền bình đẳng thương yêu tất cả các con, cho nên nghệ thuật Phật giáo Trung Hoa đã diễn tả Ngài như thế. Cũng vì vậy mà Phật tử thường gọi Ngài là Mẹ hiền Quan Âm. Và cũng bắt đầu từ đó Quán Âm là hóa thân của lòng Từ bi của chư Phật.

Các nguồn chứng liệu đa dạng kể trên cùng quy về một nhận định duy nhất rằng Bồ-tát Quán Âm là một biểu hiện cùng tột và cao cả nhất của ý niệm về lòng Từ bi trong đạo Phật.

Trong các vị Bồ-tát theo truyền thống Đại thừa, duy nhất chỉ có Đức Quán Âm là phổ cập nhất, được sùng bái nhất, chiêm ngưỡng nhất và trì niệm nhiều nhất.

Do đó, quần chúng bình dân thường gọi Ngài là “Phật Bà”, một cách gọi vừa thân thiết vừa kính mộ, tuy rằng không đúng thật với quyền năng của Ngài.

Để có thể tạc tượng Phật Quan Thế Âm Bồ Tát như: Tượng Phật Bà Quan Thế Âm Bồ tát đứng đài sen đẹp, và đem lại nhiều cảm xúc cho người xem, tượng Phật Trần Gia đã tìm hiểu và tổng hợp rất nhiều kiến thức bổ ích.

Do đó, nếu các bạn có những thắc mắc về Phật Quan Thế Âm Bồ Tát thì đừng quên liên hệ với Tượng Phật Trần Gia theo địa chỉ sau nhé:


* Mời quý Phật tử cùng chiêm ngưỡng các mẫu tượng Phật Bà Quan Thế Âm Bồ Tát rất đẹp do điêu khắc Trần Gia tôn tạo.


Cùng xem nhận xét của quý Phật tử trong và ngoài nước nói về các mẫu tượng Phật do điêu khắc Trần Gia tôn tạo:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *