TỔNG HỢP ĐẦY ĐỦ về kinh Phật A Di Đà cứu khổ cứu nạn tiếng Việt trọn bộ.

TỔNG HỢP ĐẦY ĐỦ về kinh Phật A Di Đà cứu khổ cứu nạn tiếng Việt trọn bộ.

Đối với Quý Phật tử quyết tâm theo đường tu hành đều quan tâm đến kinh A Di Đà trọn bộ.

Việc tụng kinh A Di Đà âm đem lại ý nghĩa trong việc tu sửa thân tâm khẩu ý và giúp cho Phật tử giác ngộ được những đạo lý của Phật khi soi chiếu vào cuộc sống hiện tại.

Vì vậy dể giúp Quý Phật tử hiểu rõ về Phật thuyết A Di Đà kinh, Trần Gia xin gửi tới quý Phật tử bài viết rất hữu ích dưới đây.

I/ Tại sao có tên A Di Đà kinh?

Bộ kinh này dùng người nói ra kinh để đặt tên cho bộ kinh là Phật thuyết A Di Đà kinh.

Tức là Đức Thích Ca Mâu Ni nói ra bộ kinh này.

Do hạnh nguyện và lòng thương xót chúng sinh mà Ngài giáng sinh để giúp chúng sinh giác ngộ.

Chữ thuyết nghĩa là Ngài hoan hỷ khi nói ra.

Do cơ hội thành Phật của chúng sinh đang đến nên Ngài nói phép tu này để chúng sinh giải thoát rốt ráo nên Ngài vui mà nói.

A Di Đà đã dùng 48 lời thệ nguyện để đưa đường chỉ lỗi cho chúng sinh có lòng tin, niệm Phật để được sinh về thế giới Cực Lạc.

Đây cũng là chữ khi dịch sang tiếng Hán có nghĩa là Vô lượng thọ và vô lượng Quang nghĩa là sống lâu và sáng suốt vô cùng,

Chữ kinh thể hiện phần Thông, còn 5 chữ “Phật thuyết A Di Đà” là phần Biệt. Cả 2 phần này hợp lại thành tên bộ Kinh, mỗi bộ Kinh gồm 3 phần gồm: phần giáo, phần hình và phần lý.

II/ Tôn chỉ của Kinh A Di Đà âm:

Tôn chỉ của bộ kinh là thiết yếu tu hành, để nhận rõ thự tướng của tâm tính mình.

Đó là cương lĩnh của việc đức hạnh tu trì.

Tôn chỉ của của bộ kinh là dùng chữ Tâm Tín và Nguyện cùng với việc Niệm Phật, nếu không tâm tín sẽ không đủ sức để phát nguyện.

Và không phát nguyện sẽ không thực hành nổi.

Chẳng thực hành thì không chứng thực được pháp mình đã tin theo.

Trong Bộ Kinh sẽ giúp người tu hành thấy phần Y Báo là chỗ ở trong sạch nghĩa là Tịnh Độ, phần Chính Báo là thân trong sạch nghĩa là tịnh thân để người tu hành thấy rõ để có lòng tin.

Sau đó chỉ cho phép Trì Danh để người tu lên thẳng ngôi Bất Thoái.

TÍN chính là tin, tin ở mình được gọi là tín tự, tin ở người ta được gọi là tín tha, tin ở nhân, tin ở quả, tin ở sự, tin ở lý.

NGUYỆN là cầu nguyện cho mình chán ngán với cõi Sa Ba và nguyện cho mình thích ở cõi Cực Lạc.

HÀNH tức là thực hành việc trì danh hiệu hay gọi là niệm Phật. Mục đích để giữ tâm yên tĩnh, không bị ảnh hưởng bởi những tác động bên ngoài, không bị tác động bởi tham, sân, si.. khiến tâm bị loạn.

Hiện nay các kinh về phép tu Tịnh Độ khá đa dạng với hàng nghìn phép khác nhau như ngũ hối, lục niệm, quán tưởng,…

Tất cả đều có thể đưa người tu sinh về Tịnh Độ.

Và chỉ có phép niệm Phật này là dành cho mọi người, ai tu cũng được.

Và ai bắt đầu tu cũng dễ.

Đấy là lý do mà không ai hỏi nhưng Đức Thích Ca nói ra kinh này để cứu giúp chúng sinh.

Có thể nói cái Tâm tín, Nguyện và việc trì Danh ở kinh này là mầm nhân chân thực của đạo Nhất Thừa hay còn gọi là bốn cõi Tịnh Độ.

III. Lực dụng của Kinh A Di Đà chữ:

Người trì tụng Kinh A Di Đà âm sẽ sinh sang Tịnh Độ để lên ngôi Bất Thoái.

Sinh sang Tịnh Ðộ lên ngôi Bất Thoái là cái điểm lực dụng (dùng sức tu hành) của bộ kinh này.

Tịnh Độ có 4 cõi gồm: Ðồng Cư, Phương Tiện Hữu Dư, Thực Báo Nghiêm ,Thường Tịch Quang.

Mỗi có 9 phẩm gồm thượng thượng, thượng trung, thượng hạ, trung thượng, trung trung, trung hạ, hạ thương, hạ trung, hạ hạ; dành cho 3 hạng người được vãng sinh gồm: thượng bối, trung bối và hạ bối.

Nếu người niệm Phật mà chưa đoạn trừ được Hiến Hoặc ( Tà kiến) hoặc Tư Hoặc ( bị tham, sân, si làm cho phiền não), tùy theo từng tâm: tâm loại hay định mà sẽ sinh sang 9 phẩm ở cõi Đồng Cư. Đây là cõi mà người phàm và thánh cùng chung với nhau.

Nếu người nào niệm Phật mà đến điểm nhất tâm bất loạn nghĩa là kiến hoặc tư tiêu tan sẽ sinh sang cõi Phương Tiện Hữu Dư. Đây là cõi dành cho Thanh Văn , Duyên Giác.

Nếu người niệm Phật đến thời kỳ Lý nhất tâm bất loạn, phá tan từ 1 đến 41 phẩm vô minh sẽ được sinh sang cõi Thực Báo Nghiêm. Cõi dành riêng cho Báo Thân Phật và các vị đại Bồ Tát.

Nếu người nào niệm Phật phá tan hết 42 phẩm Vô Minh sẽ được sinh ởi Thượng thượng Phẩm ở cõi Thực Báo Nghiêm và rốt ráo lên Thường Tịch Quang, Đây là või dành tiêng cho Báo Thân Phật và Pháp Thân Phật.

Chữ Bất Thoái bao gồm bốn nghĩa:

  • Niệm bất thoái.
  • Hạnh bất thoái.
  • Vị bất thoái.
  • Tất cánh bất thoái.

– Khi được đến ngôi Niệm Bất Thoái có nghĩa là người niệm đã phá hết vô minh, hiểu rõ Phật tính, được sinh thẳng sang või Thực Báo hay là Phần chứng Thường Tịch Quang.

– Khi được đến ngôi Hạnh Bất Thoái là người đoạn kiến hoặc tư hoặc hoặc trần sa cũng phá được, được gửi thể chất trong hoa sen và diệt hết mọi ác duyên thoái chuyển.

– Khi được lên ngôi Vị Bất Thoái là người mang cả ác nghiệp mà sinh sang cõi Ðồng Cư và sẽ được gửi thể chất trong hoa sen và chấm dứt mọi ác duyên.

– Tất cánh bất thoái có nghĩa là những người niệm Phật dù thế nào loạn hay bất loại, hiểu hay không hiểu, khi đã lọt vào tai thì lâu đến nghìn kiế sau sẽ có ngày được độ thoát.

Bộ kinh này do vậy được các Phật tử tìm kiếm từ kinh a di đà (bản việt văn) pdf cho đến kinh a di đà âm hán mp3, kinh a di đà bản hán văn hay kinh a di đà mp3 download, kinh a di đà hán việt, phật thuyết a di đà kinh mp3

Nhiều quý Phật tử đã tìm các phương tiện để tiếp cận Kinh A Di Đà chữ hán hay Kinh A Di Đà tiếng việt thông qua các vị như: tụng Kinh Phật A Di Đà (âm) – Thích Trí Thoát tụng mp 3, kinh A Di Đà mp3 Thích Huệ Duyên, kinh A Di Đà mp3 Thích Trí Thoát… Với việc nghe các bản kinh này sẽ giúp Phật tử cảm thấy an lòng hơn.

IV/ Chi tiết về A Di Đà Kinh:

Trong A Di Đà Kinh, Phật tử sẽ tìm được đầy đủ những mong muốn của mình mang đến sự hạnh phúc an vui như Kinh Phật A Di Đà cứu khổ cứu nạn hay Kinh A Di Đà cầu siêu,…

Kinh A Di Đà cầu siêu: được sử dụng với mục đích nguyện cho ông bà cha mẹ, cửu huyền thất tổ của mình nếu đang lưu lạc ở cõi địa ngục, ngã quỷ hay súc sinh sẽ được giải phóng để về về nơi Tịnh Độ.

Để tụng Kinh A Di Đà cầu siêu Phật từ cần:

NIỆM HƯƠNG

(Phật tử sau khi thắp đèn đốt hương trầm xong, cần nghiêm túc, đứng ngay ngắn chắp tay để ngang ngực mật niệm)

TỊNH PHÁP GIỚI CHƠN NGÔN
Án lam tóa ha. (3 lần)

TỊNH TAM NGHIỆP CHƠN NGÔN
Án ta phạ bà phạ, thuật đà ta phạ, đạt mạ ta phạ, bà phạ thuật độ hám. (3 lần)
(Chủ lễ thắp ba cây hương quỳ ngay thẳng và cần cầm hương ngang trán niệm bài cúng hương).

CÚNG HƯƠNG
Nguyện thử diệu hương vân,
Biến mãn thập phương giới,
Cúng dường nhất thiết Phật,
Tôn pháp chư Bồ tát,
Vô biên Thanh văn chúng,
Cập nhất thiết Thánh Hiền,
Duyên khởi quang minh đài,
Xứng tánh tác Phật sự,
Phổ huân chư chúng sinh,
Giai phát Bồ đề tâm,
Viễn ly chư vọng nghiệp,
Viên thành Vô thượng đạo.

KỲ NGUYỆN
Đệ tử chúng đẳng, nguyện thập phương thường trú Tam bảo, Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Tiếp dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật, Từ bi gia hộ đệ tử… pháp danh… Bồ đề tâm kiên cố, tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn, dữ pháp giới chúng sinh, nhất thời đồng đắc A nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ đề.

(Phật tử đứng dậy cắm hương vào lư rồi chắp tay đứng thẳng và niệm)

TÁN PHẬT A DI ĐÀ MP3
Pháp vương Vô thượng tôn
Tam giới vô luân thất
Thiên nhơn chi Đạo sư
Tứ sinh chi Từ phụ
Ư nhất niệm quy y
Năng diệt tam kỳ nghiệp
Xưng dương nhược tán thán
Ức kiếp mạc năng tận.

QUÁN TƯỞNG
Năng lễ, sở lễ tánh không tịch,
Cảm ứng đạo giao nan tư nghì,
Ngã thử đạo tràng như Đế châu,
Thập phương chư Phật ảnh hiện trung.
Ngã thân ảnh hiện chư Phật tiền,
Đầu diện tiếp túc quy mạng lễ.

– Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tận hư không, biến pháp giới, quá, hiện, vị lai thập phương chư Phật, Tôn Pháp, Hiền Thánh Tăng, thường trú Tam bảo. (1 lạy)
– Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ta bà Giáo chủ Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đương lai hạ sinh Di Lặc Tôn Phật, Đại trí Văn Thù Sư Lợi Bồ tát, Đại hạnh Phổ Hiền Bồ tát, Hộ pháp Chư tôn Bồ tát, Linh sơn hội thượng Phật Bồ tát. (1 lạy)
– Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tây phương Cực lạc thế giới Đại từ Đại bi A Di Đà Phật, Đại bi Quán Thế Âm Bồ tát, Đại Thế Chí Bồ tát, Đại nguyện Địa Tạng vương Bồ tát, Thanh tịnh Đại hải chúng Bồ tát. (1 lạy)

TÁN LƯ HƯƠNG

Lư hương sạ nhiệt,

Pháp giới mông huân,

Chư Phật hải hội tất diêu văn,

Tùy xứ kiết tường vân,

Thành ý phương ân,

Chư Phật hiện toàn thân.

Nam-mô Hương-Vân-Cái Bồ-tát ma-ha-tát. (Niệm số lượng 3 lần)

CHÚ ĐẠI BI
Nam mô Đại Bi hội thượng Phật Bồ tát. (Niệm số lượng 3 lần)

Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại-bi tâm đà-la-ni.

Nam-mô hắc ra đát na, đa ra dạ da.

Nam-mô a rị da, bà lô yết đế, thước bát ra da, Bồ-đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da, án, tát bàn ra phạt duệ số đát na đát tỏa.

Nam-mô tất kiết lật đỏa y mông a rị da, bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà.

Nam-mô na ra cẩn trì hê rị ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu thâu bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà già, ma phạt đạt đậu, đát điệt tha. Án a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê rị, ma ha bồ-đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê, rị đà dựng, cu lô cu lô kiết mông, độ lô độ lô, phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà ra đà ra, địa rị ni, thất Phật ra da, dá ra dá ra. Mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê y hê, thất na thất na a ra sâm Phật ra xá-lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ-đề dạ bồ-đề dạ, bồ-đà dạ, bồ-đà dạ, di đế rị dạ, na ra cẩn trì địa rị sắc ni na, ba dạ ma na ta bà ha. Tất đà dạ ta bà ha. Ma ha tất đà dạ ta bà ha. Tất đà du nghệ thất bàn ra dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì ta bà ha. Ma ra na ra ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da, ta bà ha. Ta bà ma ha, a tất đà dạ, ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ, ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ, ta bà ha. Ma bà lị thắng yết ra dạ, ta bà ha.

Nam-mô hắc ra đát na, đa ra dạ da.

Nam-mô a rị da, bà lô yết đế, thước bàng ra dạ, ta bà ha. Án tất điện đô, mạn đa ra, bạt đà dạ, ta bà ha. (3 lần)

Nam-mô Bổn-sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật. (3 lần)

KHAI KINH KỆ

Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp,
Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ,
Ngã kim kiến văn đắc thọ trì,
Nguyện giải Như-Lai chơn thiệt nghĩa.

KINH A DI ĐÀ
NAM MÔ LIÊN TRÌ HẢI HỘI PHẬT BỒ TÁT. (Niệm số lượng 3 lần)
Phật thuyết a di đà kinh như thị ngã văn

Nhứt thời Phật tại Xá-vệ quốc, Kỳ thọ Cấp-cô-độc viên, dữ đại Tỳ-kheo tăng, thiên nhị bá ngũ thập nhơn câu, giai thị đại A-La-hán, chúng sở tri thức:

Trưởng-lão Xá-Lợi-Phất, Ma-ha Mục-kiền-liên, Ma-ha Ca-diếp, Ma-ha Ca-chiên-diên, Ma-ha Câu-hy-la, Li-bà-đa, Châu-lợi bàn-đà-dà, Nan-đà, A-Nan-đà, La-hầu-la, Kiều-phạm-ba-đề, Tân-đầu-lô-phả-la-đọa, Ca-lưu-đà-di, Ma-ha Kiếp-tân-na, Bạc-Câu-la, A-nâu-lâu-đà, như thị đẳng chư đại đệ tử, tinh chư Bồ-tát ma-ha-tát. Văn-thù Sư-lợi pháp-vương-tử, A-dật-đa Bồ-tát, Càng Đà-ha-đề Bồ-tát, Thường-tinh-tấn Bồ-tát, dữ như thị đẳng, chư đại Bồ-tát; cập Thích-đề-hoàn nhơn đẳng, vô-lượng chư thiên, đại-chúng câu.

Nhĩ thời Phật cáo Trưởng lão Xá-Lợi-Phất: “Tùng thị Tây-phương quá thập vạn ức Phật-độ, hữu thế-giới danh viết Cực-lạc kỳ độ hữu Phật hiệu A-Di-Đà, kim hiện tại thuyết-pháp”.

Xá-Lợi-Phất! Bỉ độ hà cố danh vi Cực-lạc? Kỳ quốc chúng-sanh vô hữu chúng khổ, đản thọ chư lạc, cố danh Cực-lạc. Hựu Xá-Lợi-Phất! Cực-lạc quốc độ, thất trùng lan thuẫn, thất trùng la-võng, thất trùng hàng thọ, giai thị tứ bảo, châu tráp vi nhiễu, thị cố bỉ quốc danh vi Cực-lạc.

Hựu Xá-Lợi-Phất! Cực-lạc quốc độ, hữu thất bảo trì, bát công-đức thủy, sung mãn kỳ trung, trì để thuần dĩ kim sa bố địa, Tứ biên giai đạo, kim ngân, lưu-ly, pha-lê hiệp thành; thượng hữu, lâu các, diệc dĩ kim, ngân, lưu-ly, pha-lê, xa-cừ, xích-châu, mã-não nhi nghiêm sức chi. Trì chung liên-hoa, đại như xa luân, thanh sắc thanh quang, huỳnh sắc huỳnh quang, xích sắc xích quang, bạch sắc bạch quang, vi diệu hương khiết.

Xá-Lợi-Phất! Cực-lạc quốc độ thành tựu như thị công đức trang nghiêm.

Hựu Xá-Lợi-Phất! Bỉ Phật quốc-độ thường tác thiên nhạc, huỳnh kim vi địa, trú dạ lục thời, vũ thiên mạn-đà-la hoa, kỳ độ chúng-sanh thường dĩ thanh đán, các dĩ y-kích thạnh chúng diệu hoa cúng dường tha phương thập vạn ức Phật, tức dĩ thực thời hườn đáo bổn quốc, phạn thực kinh hành.

Xá-Lợi-Phất! Cực-lạc quốc độ thành tựu như thị công đức trang-nghiêm.

Phục thứ Xá-Lợi-Phất! Bỉ-quốc thường hữu chủng chủng kỳ diệu, tạp sắc chi điểu: Bạch-hạc, Khổng-tước, Anh-võ, Xá-lợi, Ca-lăng-tần-già, Cộng-mạng chi điểu, thị chư chúng điểu, trú dạ lục thời, xuất hòa nhã âm, kỳ âm diễn xướng: ngũ-căn, ngũ-lực, thất-bồ-đề phần, bát-thánh-đạo phần, như thị đẳng pháp, kỳ độ chúng-sanh văn thị âm dĩ, giai tất niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.

Xá-Lợi-Phất! Nhữ vật vị thử điểu, thiệt thị tội báo sở sanh. Sở dĩ giả hà? Bỉ Phật quốc-độ vô tam ác đạo. Xá-Lợi-Phất! Kỳ Phật quốc-độ thượng vô ác đạo chi danh, hà huống hữu thiệt, thị chư chúng điểu, giai thị A-Di-Đà Phật dục linh pháp-âm tuyên lưu biến hóa sở tác.

Xá-Lợi-Phất! Bỉ Phật quốc-độ vi phong xuy động, chư bảo hàng thọ, cập bảo la võng, xuất vi diệu âm, thí như bá thiên chủng nhạc đồng thời cu tác, văn thị âm giả, tự nhiên giai sanh: niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng chi tâm. Xá-Lợi-Phất! Kỳ Phật quốc-độ, thành tựu, như thị công-đức trang-nghiêm.

Xá-Lợi-Phất! Ư nhữ ý vân hà? Bỉ Phật hà cố hiệu A-Di-Đà? Xá-Lợi-Phất! Bỉ Phật quang-minh vô-lượng, chiếu thập phương quốc, vô sở chướng ngại, thị cố hiệu vi A-Di-Đà.

Hựu Xá-Lợi-Phất! Bỉ Phật thọ mạng, cập kỳ nhơn dân, vô lượng vô biên a-tăng-kỳ kiếp, cố danh A-Di-Đà.

Xá-Lợi-Phất! A-Di-Đà Phật thành Phật dĩ lai, ư kim thập kiếp.

Hựu Xá-Lợi-Phất! Bỉ Phật hữu vô-lượng vô-biên Thinh-văn đệ-tử, giai A-la-hán, phi thị toán số chi sở năng tri; chư Bồ-tát chúng diệc phục như thị.

Xá-Lợi-Phất! Bỉ Phật quốc độ thành-tựu như thị công-đức trang-nghiêm.

Hựu Xá-Lợi-Phất! Cực-lạc quốc-độ chúng-sanh sanh giả, giai thị a-bệ-bạt-trí, kỳ trung đa hữu nhứt sanh bổ xứ, kỳ số thậm đa phi thị toán số, sở năng tri chi, đản khả dĩ vô-lượng vô-biên a-tăng-kỳ thuyết.

Xá-Lợi-Phất! Chúng-sanh văn giả, ưng đương phát nguyện, nguyện sanh bỉ quốc. Sở dĩ giả hà? Đắc dữ như thị chư thượng thiện-nhơn câu hội nhứt xứ.

Xá-Lợi-Phất! Bất khả dĩ thiểu thiện-căn phước-đức nhơn-duyên, đắc sanh bỉ quốc.

Xá-Lợi-Phất! Nhược hữu thiện-nam tử, thiện-nư nhơn, văn thuyết A-Di-Đà Phật, chấp trì danh-hiệu, nhược nhứt nhựt, nhược nhị nhựt, nhược tam nhựt, nhược tứ nhựt, nhược ngũ nhựt, nhược lục nhựt, nhược thất nhựt, nhứt tâm bất loạn. Kỳ nhơn lâm mạng chung thời, A-Di-Đà Phật dữ chư Thánh-chúng, hiện tại kỳ tiền, thị nhơn chung thời, tâm bất điên-đảo, tức đắc vãng-sanh A-Di-Đà Phật Cực-lạc quốc-độ.

Xá-Lợi-Phất! Ngã kiến thị lợi, cố thuyết thử ngôn, nhược hữu chúng-sanh văn thị thuyết giả, ưng đương phát nguyện, sanh bỉ quốc độ.

Xá-Lợi-Phất! Như ngã kim giả, tán thán A-Di-Đà Phật bất khả tư nghị công-đức chi lợi.

Đông phương diệc hữu A-súc-bệ Phật, Tu-di-tướng Phật, Đại-tu-di Phật, Tu-di-quang Phật, Diệu-âm Phật; như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú tam-thiên đại-thiên thế-giới, thuyết thành thiệt ngôn: “Nhữ đẳng chúng-sanh đương tín thị xưng tán bất khả tư-nghị công-đức nhứt thiết chư Phật sở hộ-niệm kinh”.

Xá-Lợi-Phất! Nam phương thế-giới hữu Nhựt-Nguyệt-Đăng Phật, Danh-Văn-Quang Phật, Đại-Diệm-Kiên Phật, Tu-Di-Đăng Phật, Vô-Lượng Tinh Tấn Phật; như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú tam-thiên đại-thiên thế-giới, thuyết thành thiệt ngôn: “Nhữ đẳng chúng-sanh đương tín thị, xưng tán bất khả tư-nghị công-đức nhứt thiết chư Phật sở hộ niệm kinh”.

Xá-Lợi-Phất! Tây-Phương thế-giới hữu Vô-Lượng-Thọ Phật, Vô-Lượng-Tướng Phật, Vô-Lượng-Tràng Phật, Đại-Quang-Phật, Đại-Minh Phật, Bảo-Tướng Phật, Tịnh-Quang Phật; như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú tam-thiên đại-thiên thế-giới, thuyết thành thiệt ngôn: “Nhữ đẳng chúng-sanh đương tín thị, xưng tán bất khả tư-nghị công-đức nhứt thiết chư Phật sở hộ niệm kinh”.

Xá-Lợi-Phất! Bắc phương thế-giới, hữu Diệm-Kiên Phật, Tối-Thắng-AÂm Phật, Nan-Thơ Phật, Nhựt-Sanh Phật, Võng Minh Phật; như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú tam-thiên đại-thiên thế-giới, thuyết thành thiệt ngôn: “Nhữ đẳng chúng-sanh đương tín thị, xưng tán bất khả tư-nghị công-đức nhứt thiết chư Phật sở hộ-niệm kinh”.

Xá-Lợi-Phất! Hạ phương thế-giới, hữu Sư-Tử Phật, Danh-Văn Phật, Danh-Quang Phật, Đạt-Ma Phật, Pháp-Tràng Phật, Trì-Pháp Phật; như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú tam-thiên đại-thiên thế-giới, thuyết thành thiệt ngôn: “Nhữ đẳng chúng-sanh đương tín thị, xưng tán bất khả tư-nghị công-đức nhứt thiết chư Phật sở hộ niệm kinh”.

Xá-Lợi-Phất! Thượng phương thế-giới, hữu Phạm-AÂm Phật, Tú-Vương Phật, Hương-Thượng Phật, Hương-Quang Phật, Đại-Diệm-Kiên Phật, Tạp-Sắc-Bảo-Hoa-Nghiêm thân Phật, Ta-La-Thọ-Vương Phật, Bảo-Hoa-Đức Phật, Kiến-Nhứt-Thiết-Nghĩa Phật, Như-Tu-Di-Sơn Phật; như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú tam-thiên đại-thiên thế-giới, thuyết thành thiệt ngôn: “Nhữ đẳng chúng-sanh đương tín thị, xưng tán bất khả tư-nghị công-đức nhứt thiết chư Phật sở hộ niệm kinh”.

Xá-Lợi-Phất! “Ư nhữ ý vân hà? Hà cố danh vi: Nhứt thiết chư Phật sở hộ niệm kinh”?

Xá-Lợi-Phất! Nhược hữu thiện-nam tử, thiện-nữ nhơn văn thị kinh thọ trì giả, cập văn chư Phật danh giả, thị chư thiện-nam tử, thiện-nữ nhơn, giai vi nhứt-thiết chư Phật chi sở hộ niệm, giai đắc bất thối chuyển ư a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Thị cố Xá-Lợi-Phất! Nhữ đẳng giai đương tín thọ ngã ngữ, cập chư Phật sở thuyết.

Xá-Lợi-Phất! Nhược hữu nhơn dĩ phát nguyện, kim phát-nguyện, đương phát nguyện, dục sanh A-Di-Đà Phật quốc giả, thị chư nhơn đẳng giai đắc bất thối chuyển ư a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, ư bỉ quốc độ nhược dĩ sanh, nhược kim sanh, nhược đương sanh.

Thị cố Xá-Lợi-Phất! Chư thiện-nam tử, thiện-nữ nhơn, nhược hữu tín giả, ưng đương phát nguyện sanh bỉ quốc độ.

Xá-Lợi-Phất! Như ngã kim giả, xưng tán chư Phật bất khả tư nghị công-đức, bỉ chư Phật đẳng, diệc xưng tán ngã bất khả tư nghị công-đức nhi tác thị ngôn: “Thích-Ca Mâu-Ni Phật năng vi thậm nan hy hữu chi sự, năng ư Ta-bà quốc-độ ngũ-trược ác thế; kiếp-trược, kiến-trược, phiền-não trược, chúng-sanh trược, mạng-trược trung đắc a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, vị chư chúng-sanh, thuyết thị nhứt thiết thế-gian nan tín chi pháp.

Xá-Lợi-Phất! Đương tri ngã ư ngũ-trược ác thế, hành thử nan sự, đắc a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, vị nhứt thiết thế-gian thuyết thử nan tín chi pháp, thị vi thậm nan.

Phật thuyết thử kinh dĩ, Xá-Lợi-Phất cập chư Tỳ-kheo, nhứt thiết thế-gian, Thiên, Nhơn, A-tu-la đẳng, văn Phật sở thuyết, hoan-hỷ tín thọ, tác lễ nhi khứ.

Phật thuyết A-Di-Đà kinh.

A-DI-ĐÀ PHẬT TÁN:
Tây-phương Giáo-Chủ Tịnh-độ năng Nhơn, Tứ thập bát nguyện độ chúng-sanh, Phát nguyện thệ hoằng thâm. Thượng-phẩm thượng-sanh, Đồng phó Bửu-Liên thành.

CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
(Phật tử mỗi câu đều đọc)

  1. Nam mô An Dưỡng quốc, Cực lạc giới Di Đà Hải hội, Vô Lượng Quang Như Lai.
  2. Nam mô An Dưỡng quốc, Cực lạc giới Di Đà Hải hội, Vô Biên Quang NhưLai.
  3. Nam mô An Dưỡng quốc, Cực lạc giới Di Đà Hải hội, Vô Ngại Quang Như Lai.
  4. Nam mô An Dưỡng quốc, Cực lạc giới Di Đà Hải hội, Vô Đối Quang Như Lai.
  5. Nam mô An Dưỡng quốc, Cực lạc giới Di Đà Hải hội, Diệm Vương Quang Như Lai.
  6. Nam mô An Dưỡng quốc, Cực lạc giới Di Đà Hải hội, Thanh Tịnh Quang Như Lai.
  7. Nam mô An Dưỡng quốc, Cực lạc giới Di Đà Hải hội, Hoan Hỉ Quang Như-Lai.
  8. Nam mô An Dưỡng quốc, Cực-lạc giới Di-Đà Hải-hội, Trí-Huệ-Quang Như-Lai.
  9. Nam-mô An-Dưỡng quốc, Cực-lạc giới Di-Đà Hải-hội, Nan-Tư-Quang Như-Lai.
  10. Nam-mô An-Dưỡng quốc, Cực-lạc giới Di-Đà Hải-hội, Bất-Đoạn-Quang Như-Lai.
  11. Nam-mô An-Dưỡng quốc, Cực-lạc giới Di-Đà Hải-hội, Vô-Xưng-Quang Như-Lai.
  12. Nam-mô An-Dưỡng quốc, Cực-lạc giới Di-Đà Hải-hội, Siêu-Nhật-Nguyệt-Quang Như-Lai.

MA-HA BÁT-NHÃ BA-LA MẬT-ĐA TÂM-KINH

Quán-tự-tại Bồ-tát, hành thâm Bát-nhã Ba-la mật-đa thời, chiếu kiến ngũ-uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.

Xá-Lợi-Tử ! Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ, tưởng, hành, thức, diệc phục như thị.

Xá-Lợi-Tử ! Thị chư Pháp không tướng, bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm. Thị cố không trung, vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức, vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý-thức-giới, vô vô-minh diệc, vô vô-minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão-tử tận; vô khổ, tập, diệt, đạo; vô trí diệc vô đắc.

Dĩ vô sở đắc cố, Bồ-đề tát-đỏa y Bát-nhã-ba-la mật-đa cố, tâm vô quái-ngại; vô quái-ngại cố, vô hữu khủng-bố, viễn ly điên-đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết-bàn. Tam-thế chư Phật, y Bát-nhã-ba-la mật-đa cố, đắc A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề.

Cố tri Bát-nhã Ba-la-mật-đa, thị đại-thần chú, thị đại minh chú, thị vô-thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú năng trừ nhứt thiết khổ, chơn thiệt bất hư.

Cố thuyết Bát-nhã-ba-la-mật-đa chú, tức thuyết chú viết:

Yết-đế yết-đế, ba-la yết-đế, ba-la-tăng yết-đế, Bồ-đề tát bà ha. (3 lần)

VÃNG-SANH QUYẾT-ĐỊNH CHƠN-NGÔN:

Nam-mô a di đa bà dạ, Đa tha dà đa dạ, Đa địa dạ tha.

A di rị đô bà tỳ,

A di rị đa tất đam bà tỳ,

A di rị đa tì ca lan đế,

A di rị đa, tì ca lan đa,

Dà di nị dà dà na,

Chỉ đa ca lệ ta bà ha.

TÁN PHẬT

A-Di-Đà Phật thân kim sắc

Tướng hảo quang-minh vô đẳng-luân

Bạch hào uyển-chuyển ngũ tu-di

Cám mục trừng thanh tứ đại hải.

Quang trung hóa Phật vô số ức,

Hóa Bồ-tát chúng diệc vô-biên

Tứ thập bát nguyện độ chúng-sanh

Cửu phẩm hàm linh đăng bỉ ngạn.

Nam-mô Tây-phương Cực-lạc thế-giới đại-từ đại-bi A-Di-Đà Phật.

Nam-mô A-Di-Đà Phật. (Niệm nhiều ít tùy ý)

Nam-mô Đại-bi Quán-thế-âm Bồ-tát. (3 lần)

Nam-mô Đại-Thế-Chí Bồ-tát. (3 lần)

Nam-mô Đại-Tạng Vương Bồ-tát. (3 lần)

Nam-mô Thanh-tịnh Đại-Hải chúng Bồ-tát. (3 lần)

SÁM THẬP PHƯƠNG

Thập phương Tam-thế Phật

A-Di-Đà đệ nhứt,

Cửu phẩm độ chúng-sanh

Oai-đức vô cùng cực,

Ngã kim đại quy-y.

Sám-hối tam nghiệp tội,

Phàm hữu chư phước thiện,

Chí tâm dụng hồi-hướng.

Nguyện đồng niệm Phật nhơn,

Cảm ứng tùy thời hiện,

Lâm chung Tây-phương cảnh,

Phân-minh tại mục tiền,

Kiến văn giai tinh tấn,

Đồng sanh Cực-lạc quốc,

Kiến Phật liễu sanh-tử,

Như Phật-độ nhứt-thiết,

Vô-biên phiền-não đoạn,

Vô-lượng pháp môn tu;

Thệ nguyện độ chúng-sanh,

Tổng giai thành Phật đạo;

Hư-không hữu tận, ngã nguyện vô-cùng,

Hư-không hữu tận, ngã nguyện vô-cùng,

Tình dữ vô tình, đồng viên chủng trí.

MƯỜI ĐẠI NGUYỆN

(Quỳ đọc)

Đệ-tử chúng đẳng

Tùy-thuận tu tập

Phổ-Hiền Bồ-tát

Thập chủng đại nguyện:

Nhứt giả lễ kính chư Phật,

Nhị giả xưng tán Như-Lai,

Tam giả quảng tu cúng-dường,

Tứ giả sám-hối nghiệp-chướng,

Ngũ giả tùy-hỷ công-đức,

Lục giả thỉnh chuyển pháp-luân,

Thất giả thỉnh Phật trụ thế,

Bát giả thường tùy Phật học,

Cửu giả hằng thuận chúng-sanh,

Thập giả phổ giai hồi-hướng.

HỒI HƯỚNG

Phúng kinh công-đức thù thắng hạnh,

Vô biên thắng phước giai hồi-hướng,

Phổ nguyện pháp-giới chư chúng-sanh,

Tốc vãng vô-lượng-quang Phật sát.

Nguyện tiêu tam-chướng trừ phiền-não,

Nguyện đắc trí-huệ chơn minh liễu,

Phổ nguyện tội chướng tất tiêu trừ.

Thế thế thường hành Bồ-tát đạo.

Nguyện sanh Tây-phương Tịnh-độ trung,

Cửu phẩm Liên-hoa vi phụ mẫu,

Hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh,

Bất thối Bồ-tát vi bạn lữ.

Nguyện dĩ thử công-đức,

Phổ cập ư nhứt thiết,

Ngã đẳng dữ chúng-sanh,

Giai cộng thành Phật-đạo.

THƯỢNG LAI

(Vị chủ lễ xướng một mình như sau):

Đệ-tử chúng đẳng, cung tựu Phật tiền, phúng tụng Đại-thừa kinh chú, cập niệm Phật công đức, chuyên vì kỳ siêu hương linh….. Pháp danh….. tốc xả mê-đồ, siêu sanh Tịnh-độ.

PHỤC NGUYỆN:

Nhứt thành thượng đạt, vạn tội băng tiêu, nguyện hương linh đắc độ cao-siêu, kỳ gia-quyến hàm triêm lợi-lạc.

PHỔ NGUYỆN:

Âm siêu dương thới, pháp giới chúng-sanh, tình dữ vô tình, tề thành Phật đạo.

(Đồng niệm) Nam-mô A-Di-Đà Phật.

TAM QUY-Y:

Tự quy-y Phật, đương nguyện chúng-sanh, thể giải đại-đạo, phát vô-thượng tâm. (1 lạy)

Tự quy-y Pháp, đương nguyện chúng-sanh, thâm nhập kinh-tạng, trí huệ như hải. (1 lạy)

Tự quy-y Tăng, đương nguyện chúng-sanh, thống-lý đại-chúng, nhứt thiết vô ngại. (1 lạy)

V/ Kinh A Di Đà dịch nghĩa:

Phật thuyết A Di Đà kinh âm hán thực sự khá bao quát và nhiều dữ liệu cho quý Phật tử.

Do vậy quý Phật tử cần tìm: A Di Đà kinh sớ sao diễn nghĩa toàn tập , Phật Thuyết A Di Đà kinh yếu giải giảng ký, Kinh A Di Đà yếu giải ngẫu ích đại sư… để có thể hiểu rõ và sâu hơn khi tụng kinh.

Khi nắm được Kinh A Di Đà nghĩa, Phật tử sẽ thông tỏ mọi đường.

Kinh A Di Đà diễn nghĩa sẽ giúp Quý Phật tử hiểu rõ hơn để dễ dàng hơn khi tu tập.

Do A Di Đà Kinh sớ sao diễn nghĩa khá dài với số lượng lớn, chúng tôi xin diễn lược một số ý ở bài viết này.

Kinh A Di Đà giảng giải rõ qua lời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói về chánh báo và y báo thù thắng trang nghiêm của Đức Phật A Di Đà.

Thời Triều Tấn, Diệu Hưng chiếm 1 phần đất xưng Vương với quốc hiệu là Diệu Tân.

Do thông hiểu tam tạng kinh luật, luận và giảng dạy cho mọi người nên gọi là Tam Tạng Pháp Sư.

Ngài Cưu Ma La Thập người xứ Thiên Trúc và qua Trung Quốc trở thành nhà dịch kinh chữ Phạn ra chữ Trung.
Ông Cấp Cô Độc Trưởng Giả mua khu vườn cẩu Thái Tử Kỳ Đà.

Thái Tử cúng luôn từng cây và 2 người chung sức xây dựng Tịnh xá để Thỉnh Phật và đặt tên là Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên vậy.

Đệ tử của Đức Phật rất đông, 1.250 vị Đại-A-La-Hán là những vị được Phật độ trước nên trong kinh nói về số lượng này.

Dật-Đa là tên của Đức Phật Di Lạc Bồ Tát.

Càn-Đà-Ha-Đề Bồ Tát là ngài Bất Hưu Bồ Tát.

Thích Đế Hoàng Nhân là tên vua cõi trời Đao Lợi.
Ý báo là chỗ nương ở,…được gọi chung là cõi nước.

Trong đây ý báo là nước Cực Lạc.

Chánh báo là loài trời, người, chim thú,…

Ở trong đây chánh báo chính là Đức Phật A Di Đà cùng Bồ Tát, Thanh Văn….

Còn cõi nước ta là cõi Ta Bà với bao nhiêu khổ lụy, tam khổ,…

Còn cõi Cực Lạc thì những điều vui sướng, tam lạc, bát lạc.

KHỔ Ở CÕI TA BÀ

Khổ khổ: Thân sắc nặng nề, nhơ nhớp, nay sống mai chết, chồng chất khổ như: đói khát, nóng rét, già, bệnh,…
Hoại khổ: Thân như chỉ mành mỏng manh.
Hành khổ: trong mỗi niệm, tâm tưởng luôn biến chuyển không ngừng.
Bát khổ:
Sanh khổ: Khi lầ bào thai tăm tối, lọt lòng thì khổ trăm bề.
Lão khổ: lGià nua, lưng mỏi, đãng trí, đầu bạc,…
Bệnh khổ: đau đớn, nhức nối, bứt rứt,…
Tử khổ: méo miệng, chuyển xương gân rút…
Cầu bất đắc khổ: cầu không được, danh lợi thỏa mãn,…
Ái biệt ly khổ: cốt nhục phân tán, sinh tử biệt ly
Oán tắng tội khổ: oan gia ngõ hẹp, đối đầu, cừu thù gặp gỡ..
Ngũ ấm xứ thạnh khổ: thân tâm dời đổi biến diệt

VUI Ở CỰC LẠC

Lạc trung lạc: thân nhẹ, no ấm, cõi xinh,…
Bất biến hoại lạc: thân mạng luôn trường tồn vĩnh viễn.
Bất động trí lạc: định huệ dung thông, chánh tri bất động.
Bát lạc:
Sanh lạc: thác chất liên hoa, thanh tịnh hoá sanh..
Vô lão lạc: trẻ trung mãi không già. .
Vô bịnh lạc: không bệnh không đau yếu.
Vô tử lạc: trường sanh bất diệt.
Toại nguyện lạc: Mọi ý nguyện đều thành
Vô ái biệt ly lạc: bạn lành hải chúng, luôn mãi bên nhau.

Vô oán tắng hội lạc: thuần là Thượng-Thiện-Nhân, đồng tâm xứng ý….
Vô ngũ ăm sanh lạc: thân tâm thanh tịnh, yên tĩnh hoan hỷ.

Vì thế không đâu khổ như cõi Ta Bà và không đâu sướng bằng chốn Cực Lạc. Mọi người tụng Kinh A Di Đà âm Hán Việt hay bất cứ chữ nào đều mong để có thể lìa chốn Ta Bà và đi đến chốn Cực Lạc. .
Bốn báu: vàng, bạc, lưu ly, pha lê. Ở trong kinh gồm 7 báu bao gồm: vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xà cừ, xích châu, và mã não.

Tám công đức của nước trong ao bên Cực Lạc với các đặc tính như trong sạch, nhẹ nhàng, mát mẻ, ngọt lành, thuần khiết, uống vào hết đói khát, và bổ khoẻ thân tâm.
Người nước Cực Lạc đều có thần túc thông, có thể trải qua vô lượng thế giới trong nháy mắt.

Đi kinh hành là đi vòng quanh chậm rãi,từ tốn vừa đi vừa tưởng niệm đến các pháp lành.

Lợi ích là có thể thâu nhiếp tâm tưởng, trừ tà niệm, bỏ ngủ nghĩ, điều hòa thân thể và lưu thông khí huyết, dễ tiêu hóa.
Tinh, tấn, niệm, định, huệ: Đây là 5 đức giúp người tu hành bám vào trên con đường hạnh đạo nên gọi là ngũ căn.

Nếu mọi cảnh trên đường đạo không làm tác động được người tu hành thì 5 đức trên gọi là ngũ lực.

Thất Bồ Đề Phần hay được gọi là thất giác chi ( 7 đức giác ngộ ) là Trạch pháp, Niệm, Tinh tấn, Hỉ, Khinh an, Định, và Xả. Bát Chánh đạo Phần là Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, và Chánh định.

Nếu trong cõi Ta Bà loài chim được sinh do ác nghiệp trong tiền kiếp mà sinh ra trong giới súc sinh thì chim ở Cực Lạc khác hẳn, là do thần lực của Đức A Di Đà biến hóa để làm cho pháp ấp được chuyển khắp trong nước.

Đức Phật A Dì Đà có 2 điều vô lượng là vô lượng quang và vô lượng thọ.

Bệ-Bạt-Trí hay còn gọi là bất thối chuyển nghĩa là khi trên đường Thánh thẳng đến thành Phật không bị xuống phàm phu nữa.

Tất cả những người sinh vào cõi Cực Lạc đều bực bất thối.

Trong hàng bất thối lại có vô số bậc nhất được sinh bổ xứ Bồ Tát.
Cõi Cực Lạc trang nghiêm, chỉ có Phật tử nhiều căn lành mới được sinh về đó. Việc niệm Phật giúp tâm bất loạn là một thành tựu lớn cho đến khi lâm chung sẽ được các Đức Phật đến rước và quyết định đến việc sinh ở cõi Cực Lạc.

Khi niệm Phật không có mộng tưởng nào xen vào, không xao động thì gọi là tâm bất loạn.

Người tu tịnh độ cần đảm bảo đủ 3 điều: Tín Phật, Hạnh và Nguyện.

Trong các điều này, lòng tin đứng đầu là nền tảng cho căn lành.

Và lòng tin quyết định tất cả.

Hằng hà sa số nghĩa là số cát sông Hằng, con sông Hằng là con sông lớn ở Thiên Trúc , bắt nguồn từ núi Hi Mã chảy qua Thiên Trúc và đổ về Ấn Độ Dương. Lòng sông cũng như 2 bên bãi có cát mịn. Đức Phật xưa nói pháp gần bên sông và muốn chỉ là số lượng nhiều như cát sông Hằng.

Tướng lưỡi rộng dài thể hiện sự thành thật.

Trong A di da kinh nói về người nào chót lưỡi liếm đến đầu mũi thì người đó trong 3 đời không nói một lời nói nói dối nào.

Một thái dương hệ có nghĩa là một tiểu thế giới.

Một nghìn tiểu thế giới có nghĩa là một tiểu thiên thế giới.

Một nghìn tiểu thiên thế giới có nghĩa là một trung thiên thế giới.

Một nghìn trung thiên thế giới có nghĩa là một thế giới trải qua ba lần nhân cho số nghìn.

Do vậy được gọi là Tam thiên đại thiên thế giới.

Trong Đại Thiên thế giới đầy rẫy sự khổ, vô lượng thống khổ mà chúng sinh vẫn cam chịu được.

Ngũ trược sẽ bao gồm:

Kiếp trược: kiếp là chỉ cho thời đại, thời gian. Nếu thời đại nào mà có các trược dưới đây là thời đại dơ bẩn.

Kiến trược: Đấy là những điều mê chấp, tà kiến, khiến con người điên đảo.

Phiền não trược: gồm các tâm tham, sân, si, mạn bất tín.

Chúng sinh trược: 5 ấm bao gồm: sắc, thọ, tưởng, hành, thức sinh diệt chẳng bao giờ ngừng.

Mạng trược: Đoản thọ, nay sống mai chết, mạng sống mỏng manh.

4 món trược này nhiều sai lầm và biến đổi vô thường mang đến sự nhơ đục cho chúng sinh.

Trên đây là những thông tin quan trọng về A Di Đà kinh.

Và để việc tụng kinh A Di Đà được thuận lợi thì quý Phật Tử cần chuẩn bị tượng Phật, lễ trang nghiêm khi trì tụng.

Việc lựa chọn tượng Phật cần đảm bảo thần thái, sự trang nghiêm và chất lượng tại nơi phát hành tượng uy tín, tránh mua hàng trôi nổi trên thị trường.

Bởi những hàng trôi nổi trên thị trường trong quá trình vận chuyển sẽ ảnh hưởng đến tính nguyên vẹn cũng như sự linh thiêng của bức tượng.

Cơ sở điêu khắc tượng Phật Trần Gia- với bề dày kinh nghiệm lâu năm trong nghề và đội ngũ nhân sự lành nghề được đào tạo bài bản từ trường đại học Mỹ Thuật TPHCM.

Chúng tôi hiểu rõ về Phật Pháp và kinh nghiệm trong việc thờ cúng Đức Phật , Bồ Tát sẽ nhiệt tình tư vấn cho quý khách hàng những kiến thức hữu ích và giúp quý Phật tử lựa chọn được những tôn tượng trang nghiêm, thần thái được làm từ bàn tay khéo léo, sự nhiệt tình và trân trọng các vị chư Phật.

Chúng tôi đảm bảo những tôn tượng ra đời luôn mang lại sự trang nghiêm, thần thái của chư Phật.

Mời Quý Phật tử hoan hỷ ngắm nhìn hình ảnh những mẫu tượng Phật A Di Đà đẹp do cơ sở điêu khắc tượng Phật Trần Gia tôn tạo:

Mời quý Phật tử chiêm ngưỡng hết các mẫu tượng Đức Phật A Di Đà đẹp nhất của điêu khắc Trần Gia:

* Tượng Đức Phật A Di Đà đẹp nhất

Để tìm hiểu về tượng Phật phù hợp, hãy liên hệ với chúng tôi theo địa chỉ:

CƠ SỞ ĐIÊU KHẮC TƯỢNG PHẬT TRẦN GIA

Hotline : 0931.47.07.26 ( zalo ,viber )

Email : dieukhactrangia@gmail.com 

– Chi nhánh 1 : Số 27 Đường số 1, Phường Hiệp Bình Phước, Quận Thủ Đức, Tp.HCM

– Chí nhánh 2   : 57 Đường Nguyễn Chí Thanh , Nghĩa Lập , Đơn Dương , Lâm Đồng .

Trả lời