9 ĐIỀU NÊN BIẾT VỀ DI LẶC BỒ TÁT : VỊ PHẬT CƯỜI VỚI NIỀM VUI VÔ TƯ LỰ

 DI LẶC BỒ TÁT : VỊ PHẬT CƯỜI VỚI NIỀM VUI VÔ TƯ LỰ

Di Lặc zh. 彌勒, sa. Maitreya, pi. metteyya là cách phiên âm, dịch nghĩa là Từ Thị (慈氏). Chữ “Thị” ở đây là họ, còn chữ “Từ” chỉ cho lòng từ, bi, hỷ, xả của Ngài, tức: “người có lòng từ”. Cũng có thuyết có tên là Vô Năng Thắng (zh. 無能勝, sa. ajita), phiên âm Hán-Việt là A-dật-đa. Di Lặc là một vị Bồ Tát, là Phật vị lai.

Theo kinh Di-Lặc Hạ Sinh, Ngài vốn là người Bà-la-môn, xuất gia tu tập theo Phật và đã viên tịch trước Phật. Hiện tại, Ngài đang ở cõi trời Đâu – Suất.

Sau bốn ngàn năm, Ngài sẽ sinh trở lại thế giới Ta-bà của chúng ta, rồi thành đạo ở vườn Hoa Lâm, dưới gốc cây Long Hoa, hiệu là Di-lặc.

Bốn ngàn năm ở cõi trời Đâu – Suất, nếu tính theo năm của thế gian thì phải tới 57.060.000.000 năm nữa đức Phật Di-lặc mới ra đời.

Hơn ngàn năm trước, Đức Phật Di Lặc đã hiển hiện với thế nhân dưới xác thân Bố Đại Hòa Thượng, mà người đời không hay biết.

Những cuốn cổ thư như “Cảnh Đức Truyền Đăng Lục”, “Ngũ Đăng Hội Nguyên”, “Minh Châu Cảm Ứng Đại Sư Bố Đại Hòa Thượng Truyện”, v.v. đều có ghi chép về sự tích của hòa thượng Bố Đại. Sách Cảnh Đức Truyền Đăng Lục thời Tống (1004) chép:

“Quê ở Minh Châu, huyện Phụng Hóa. Không ai rõ tên họ Ngài là gì, chỉ biết Ngài tự xưng mình là Khiết Thử, mọi người thường gọi là Bố Đại Hòa Thượng, nghĩa là ‘Hòa Thượng Túi Vải”.

1/ TRUYỀN THUYẾT VÀ KINH ĐIỂN VỀ PHẬT DI LẶC:

Theo kinh điển Phật giáo, Di Lặc là vị Phật sẽ xuất hiện trên Trái Đất, đạt được giác ngộ hoàn toàn, giảng dạy Phật Pháp, giáo hóa chúng sinh, và chứng ngộ thành Phật.

Phật Di Lặc sẽ là vị Phật kế tiếp Đức Phật lịch sử Thích Ca Mâu Ni. Cõi giáo hóa của Bồ Tát hiện nay là nội viên của cõi trời Đâu-suất (sa. tuṣita). Bồ Tát Di-lặc được tiên tri sẽ giáng sinh trong kiếp giảm của tiểu kiếp kế tiếp, khi nhân thọ là 80.000 năm, tức khoảng hàng trăm triệu năm nữa theo năm Trái Đất, khi Phật Pháp đã hoàn toàn bị loài người lãng quên.

Sự tích về Phật Di Lặc được tìm thấy trong các tài liệu kinh điển của tất cả các tông phái Phật giáo (Nguyên thủy, Đại thừa, Kim cương thừa), và được chấp nhận bởi hầu hết các Phật tử như là một sự kiện sẽ diễn ra khi Phật Pháp đã bị lãng quên trên Trái Đất, và Bồ Tát Di-lặc sẽ là bậc giác ngộ Pháp và thuyết lại cho chúng sinh, tương tự như những vị Phật lịch sử đã làm trong quá khứ.

Nếu năm đức Phật xuất hiện trên Trái Đất được xem là hóa thân của Ngũ Phật thì Bồ Tát Di-lặc được xem như hóa thân của Thành sở tác trí (xem Phật gia, Ngũ trí).

Có thuyết cho rằng, chính Bồ Tát Di-lặc là người khởi xướng hệ phái Duy thức của Đại thừa. Một số học giả cho rằng, vị này chính là Maitreyanātha (sa. Maitreya-nātha), thầy truyền giáo lý Duy thức cho Vô Trước (sa. asaṅga). Truyền thống Phật giáo Tây Tạng cho rằng, Ngài là tác giả của năm bài luận, được gọi là Di Lặc (Từ Thị) ngũ luận:

  1. Đại thừa tối thượng luận hoặc Cứu cánh nhất thừa bảo tính luận (sa. mahāyānottaratantra)
  2. Pháp pháp tính phân biệt luận(sa. dharmadharmatāvibaṅga)
  3. Trung biên phân biệt luận(sa. madhyāntavibhāga-śāstra)
  4. Hiện quán trang nghiêm luận(sa. abhisamayālaṅkāra)
  5. Đại thừa kinh trang nghiêm luận(sa. mahāyānasūtralaṅkāra)

Như đã nêu ở trên, Phật Di Lăc chỉ giáng sinh sau một thời gian rất dài về sau, khi Phật Pháp đã hoàn toàn bị loài người lãng quên.

Theo kinh Pháp Diệt Tận, Phật Thích Ca đã nói rằng từ thời điểm đó tới lúc Bồ Tát Di Lặc thành Phật là rất lâu xa, phải khoảng chừng 10 triệu năm.

Tuy nhiên trong quá khứ, một số người đã tự xưng mình là Phật Di Lặc giáng thế để thực hiện các mưu đồ chính trị.

Năm 689, Võ Tắc Thiên đã hạ lệnh cho Pháp Lãng ngụy tạo Đại Vân Kinh, cho rằng Võ Hậu là Di-lặc hạ sanh. Khoảng năm 713-755, Vương Hoài Cổ cũng tự xưng là Tân Phật (Phật Di-lặc) rồi khởi binh làm loạn. Năm 1022-1063 đời Bắc Tống, Vương Túc thống lãnh giáo đồ Di-lặc làm phản ở Bối Châu…

2/ NHỮNG SỰ TÍCH VỀ PHẬT DI LẶC

A/ PHÁP LỰC THẦN THÔNG LÀ VIÊN DUNG

Câu chuyện kể về Hòa thượng Bố Đại, tướng người mập mạp, trán hẹp, bụng lớn, nói năng vô định, ngủ thì tùy chỗ, thường dùng một cây gậy, quảy chiếc túi vải, hễ ai cúng cho món gì, Ngài bỏ cả vào trong túi.

Vào chợ, vào xóm, Ngài thấy cái gì là xin cái đó, bất kể cá ươn hay rau úa, xin được, bỏ vào miệng, còn lại thì bỏ vào túi. Nhưng hễ ai cần cái gì, thiếu cái gì, Ngài liền lấy trong túi ra cho.

Có lần Ngài nằm trong tuyết, mà tuyết không thấm ướt đến mình. Người ta thấy thế cho rằng Ngài là một nhân vật kỳ lạ. Nếu Ngài đến xin hàng bán của ai, hàng đó nhất định sẽ bán chạy.

Trời sắp sửa mưa, chắc chắn người ta sẽ thấy Ngài mang đôi guốc gỗ đẫm ướt đi bươn bả trên đường.

Lúc trời hứa hẹn một ngày nắng ráo, người ta thấy Ngài treo cao đôi guốc gỗ trên cầu, nằm co chân mà ngủ. Cư dân lấy đó mà nghiệm thì có thể biết thời tiết hôm ấy sẽ ra sao.

B/ ẨN DƯỚI THÂN PHÀM ĐỂ ĐỘ NHÂN

Ngài luôn luôn mang theo cái túi vải lớn và một cây tích trượng, không bao giờ rời xa hai vật ấy. Lại còn có 18 đứa con nít nhỏ thường đeo đuổi bên Ngài để chọc ghẹo mà Ngài vẫn cười hề hề, không phiền trách chi cả. Đứa thì móc lỗ mũi, đứa dùi lỗ tai, đứa chọc rốn, đứa móc miệng, đứa bịn mắt, v.v.

Trong chữ Hán, chữ Lý (李) chiết tự là Thập (十) nghĩa là 10, Bát (八) nghĩa là 8, Tử (子) nghĩa là trẻ con.

Khi Ngài ở tại xứ Mân Trung, có một cư sĩ họ Trần, thấy Ngài làm nhiều việc kỳ thần, nên khoản đãi Ngài rất cẩn trọng.

Lúc Ngài từ giã Trần cư sĩ mà đi qua xứ Lưỡng Chiết, ông muốn rõ tên họ Ngài, bèn hỏi rằng: “Thưa Hòa thượng, xin cho tôi biết họ Ngài là chi, sinh năm nào, tháng nào, ngày nào, giờ nào, và xuất gia đã bao lâu rồi?”.

Ngài đáp rằng: “Ta nói cho ngươi rõ rằng ta chính là họ Lý, sinh ngày mùng tám tháng hai. Ta chỉ biểu hiện cái túi vải này là để độ đời đó thôi. Vậy ngươi chớ tiết lộ cho ai biết”.

C/ TU PHẬT LÀ TU CÁI TÂM, TU CHÂN

Ông Trần cư sĩ thưa: “Đệ tử ngu dốt, biết làm sao để thấy Phật tính?”.

Ngài bèn đáp bài kệ:

“Phật tức Tâm, Tâm ấy là Phật,
Mười phương thế giới là linh vật;
Tung hoành diệu dụng biết bao nhiêu,
Cả thảy chẳng bằng Tâm Chân Thật.”

D/ DI LẶC BỒ TÁT CÓ VÔ SỐ PHÁP THÂN, XUỐNG NHÂN GIAN KẾT THIỆN DUYÊN

Đêm ấy Ngài ở lại nhà Trần cư sĩ. Trước khi đi, Ngài viết một bài kệ dán nơi cửa:

“Ta có một thân Phật,
Có ai đặng tường tất;
Chẳng vẽ cũng chẳng tô,
Không chạm cũng không khắc;

Chẳng có chút đất bùn,
Không phải màu thể sắc;
Thợ vẽ, vẽ không xong,
Kẻ trộm, trộm chẳng mất;

Thể tướng vốn tự nhiên,
Thanh tịnh trong vặc vặc;
Tuy là có một thân,

Phân đến ngàn trăm ức.”

Một ngày nọ, ông Ma Ha cư sĩ cùng Ngài đồng tắm dưới khe Trường Đinh.

Khi Ngài đưa lưng bảo ông Ma Ha kỳ giùm, thì ông thấy nơi lưng Ngài có bốn con mắt rực rỡ chói lòa, bèn lấy làm kinh dị vô cùng.

Ông liền bái Ngài mà nói rằng: “Hòa thượng quả là một vị Phật tái thế”.

Ngài liền khoát tay bảo nhỏ rằng: “Ngươi chớ nói tiết lộ. Ta cùng ngươi ở với nhau đã ba bốn năm nay, vốn là có nhân duyên rất lớn. Rồi đây ta sẽ từ biệt ngươi mà đi, vậy ngươi chớ buồn rầu thương nhớ“.

Ngài nói rồi, bèn về nhà ông Ma Ha cư sĩ mà hỏi rằng: “Ý ngươi có muốn giàu sang hay không?”.

Ông Ma Ha cư sĩ thưa rằng: “Sự giàu sang như phù vân, như giấc chiêm bao, có cái gì là bền lâu chắc chắn đâu, nên tôi nguyện làm sao cho con cháu tôi đời đời được lâu bền mà thôi”.

Ngài bèn lấy cái túi của Ngài, móc ra một cái túi nhỏ, một cái hộp, và một sợi dây, liền đưa cho ông Ma Ha cư sĩ mà nói rằng: “Ta cho ngươi mấy vật này mà từ biệt. Song ta căn dặn ngươi phải giữ gìn cho kỹ càng mà làm biểu tín những việc hậu vận của nhà ngươi”.

Ông Ma Ha cư sĩ nhận mấy món ấy mà chẳng rõ được là ý gì. Cách vài bữa sau Ngài trở lại nhà ông mà hỏi rằng: “Nhà ngươi có hiểu được ý ta hay không?”.

Ông thưa rằng: “Thưa Ngài! Đệ tử không rõ”.

Ngài nói rằng: “Đó là ta muốn con cháu nhà ngươi ngày sau cũng như mấy vật của ta cho đó vậy”.

Nói rồi Ngài bèn từ giã mà đi.

Đến sau, quả nhiên con cháu của ông Ma Ha cư sĩ được vinh hoa phú quý, hưởng lộc nước đời đời. Đó là mấy vật của Ngài cho có hiệu nghiệm như vậy.

E/ Thần Phật hạ thế độ nhân nhưng người đời trong mê mà không thấy

Nhằm ngày mùng ba tháng ba, năm thứ ba, niên hiệu Trịnh Minh, Ngài không tật bệnh gì, ngồi trên bàn thạch gần nơi mái chùa Nhạc Lâm mà nhập diệt.

Trước khi tịch, Ngài ngâm câu kệ:

“Di Lặc, Chân Di Lặc
Phân thân thiên bách ức
Thời thời thị thời nhân
Thời nhân tự bất thức.”

Dịch thơ:

“Di Lặc, chân Di Lặc
Phân thân trăm ngàn ức
Thời thời trước người đời
Người đời tự chẳng biết.

Bài kệ này đã nói rõ cho thế nhân biết, Ngài đã và đang chuyển sinh xuống cõi nhân gian kết duyên với những người có duyên “Thời thời thị thời nhân”.

Nhưng con người vốn trong mê, vẫn không hay biết “Thời nhân tự bất thức”.

Người đời tự mình chìm đắm trong mê hoặc của cái danh lợi tình hư ảo cõi nhân gian mà bị mê mờ, che lấp Phật tính, không nhận ra Ngài luôn hiển hiện ngay trước mắt.

Trong Kinh Phật nói rằng khi hoa Ưu Đàm Bà La khai nở, Phật Di Lặc tương lai sẽ hạ thế phổ độ chúng sinh.

Kể từ năm 1997, tại Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Việt Nam, Thái Lan, Hồng Kông, Malaysia, Singapore, Australia, các tiểu bang nước Mỹ, Canada, các tỉnh Trung Quốc, người ta liên tục phát hiện hoa Ưu Đàm Bà La thánh khiết khai nở.

3/ HÌNH TƯỢNG CỦA PHẬT DI LẶC

Hình tượng của Ngài được dựa theo một truyền thuyết ở bên Trung Quốc. Thời Ngũ Đại (907-960), có một vị sư mập, mặc áo để hở bụng, gương mặt rất vui, trên vai đeo một cái túi vải.

Đi đến đâu Ngài cũng xin, người ta cho cái gì thì bỏ vào túi vải. Sau đó, khi gặp những đứa trẻ, Ngài cho tụi nó hết. Cho nên, con nít rất thích, cứ bu quanh chơi với Ngài.

Người ta gọi ngài là “Bố Đại Hòa Thượng”. “Bố đại” nghĩa là cái túi vải, “Bố Đại Hòa Thượng” nghĩa là vị Hòa thượng đeo cái túi vải.

Vì chỉ chơi với con nít, một số người lớn thấy vậy không ưa Ngài, có người mắng chửi, thậm chí còn nhổ nước miếng lên mặt Ngài.

Nhưng Ngài vẫn bình thản, vui cười. Hình như lúc nào Ngài cũng nở nụ cười ở trên môi. Dù thân tướng mập mạp nhưng Ngài luôn tự tại. Ngài có làm một bài kệ:

Lão hèn mặc áo vá,

Cơm hẩm đủ no lòng.

Áo vá qua cơn lạnh,

Vạn sự chỉ tùy duyên.

Có người mắng lão hèn,

Lão hèn cho là hay.

Có người đánh lão hèn,

Lão hèn ngủ quên mất.

Phun nước miếng lên mặt,

Cứ để cho nó khô.

Ta cũng đỡ sức lực,

Anh cũng khỏi giận hờn.

Kiểu ba-la-mật ấy,

Như là báu thêm màu.

Nếu biết được như thế,

Lo gì đạo chẳng thành.

Ngài sống rất tự tại, áo thì vá, đi tới đâu ai cho thì ăn, ai chửi thì Ngài cho vậy là tốt, ai đánh thì Ngài nằm ngủ khì, ai nhổ nước miếng lên mặt thì Ngài mặc kệ cứ để cho nó tự khô, khỏi phải mất công chùi. Khi nhập diệt, Ngài để lại một bài kệ:

Di-lặc chân Di-lặc,

Phân thân thiên bá ức,

Thời thời thị thời nhân,

Thời nhân tự bất thức.

Có nghĩa là:

Di-lặc thật Di-lặc,

Phân thân ngàn vạn ức,

Luôn luôn hiện vì đời,

Người đời tự chẳng biết.

Nhờ bài kệ này, người ta mới biết Ngài là đức Phật Di-lặc hóa sinh.

Cho nên, từ đó, người ta lấy hình tượng bụng phệ, tai to, mặt lớn, miệng lúc nào cũng cười, thần thái lúc nào cũng tự tại, an vui của Bố Đại Hòa Thượng làm hình tượng của đức Phật Di-lặc.

4/ NGÀY VÍA PHẬT DI LẶC

Chúng ta đừng nghĩ rằng phải đợi có ngày sanh ngày tịch mới gọi là ngày vía. Đây là ý nghĩa thâm sâu trong nhà Thiền.

Các Tổ đã khéo léo chọn ngày mùng một Tết làm ngày vía đức Phật Di Lặc.

Chúng ta lạy Ngài với câu: Long Hoa Giáo Chủ đương lai hạ sanh Di Lặc Tôn Phật. Chư Tổ thấy thế gian xem ngày mùng một Tết là ngày định đoạt của suốt một năm.

Ngày này mọi người dè dặt từng lời nói, dè dặt từng hành động, dè dặt từng tên người đến thăm mình, dè dặt đủ thứ chuyện.

Như vậy ngày mùng một Tết là ngày đầy đủ ý nghĩa của tương lai mình.

Các Tổ lấy ngày mùng một Tết làm ngày vía đức Phật Di Lặc cũng là ngày tương lai rực rỡ, ngày tương lai sẽ thành Phật.

Sáng mồng một chúng ta lạy Phật, lạy vía đức Di Lặc, là đặt hết cả niềm hy vọng vào tương lai, hy vọng chúng ta sẽ thành Phật.

Không hy vọng giàu có sang trọng gì mà chỉ hy vọng sẽ thành Phật. Đó là ý nghĩa sâu đậm nhất của ngày mùng một Tết để chúng ta lễ đức Phật Di Lặc.

5/ VỊ TRÍ TỐT ĐỂ ĐẶT TƯỢNG PHẬT DI LẶC

Cách tốt nhất là nên đặt ở nơi dễ thấy và tôn kính ở trong nhà. Sau một ngày làm việc căng thẳng và mệt mỏi, tinh thần về nhà thường rất uể oải.

Đặt tượng Phật Di Lặc ở chỗ dễ thấy nhất để khi bước vào nhà nhìn thấy được nụ cười rạng rỡ của Phật thì mọi mệt mỏi sẽ giảm bớt đi rất nhiều, nhìn ngắm nụ cười Phật thường xuyên còn giúp mang lại niềm vui trong cuộc sống.

6/ CÁCH THỈNH PHẬT DI LẶC VỀ NHÀ

Những người thờ Phật tại gia trước hết phải nhờ người làm lễ khai quang, chọn giờ tốt, ngày tốt – tuy nhiên đây chỉ là tín ngưỡng hoặc phong tục dân gian chứ không hề được quy định trong kinh Phật.

Theo Pháp sư Tịnh Không trong “Phật giáo là gì” thì khi thỉnh tượng phật về nhà không cần thiết phải nhờ pháp sư hay bất kì ai “khai quang” bởi “chính tượng Phật, Bồ tát vì chúng ta mà khai quang”.

Theo quan điểm Phật giáo thì Phật, Bồ tát có mặt khắp mọi nơi, không nơi nào không ứng hiện. Do đó, việc thỉnh Phật Di lặc về nhà chủ yếu dựa vào cái tâm của gia chủ khi thờ Phật.

Chỉ cần chọn một chỗ nào mình cho là tôn quí nhất, rồi với tình cảm thành kính nhất và chọn một thời điểm thích đáng nhất để đặt tượng thờ Phật là được.

7/ NHỮNG ĐIỀU CẤM KỴ KHI TRƯNG TƯỢNG PHẬT DI LẶC TRONG NHÀ

– Việc thờ cúng hay quảng bá truyền thông hình tượng Đức Phật Di Lặc tay cầm vàng là điều nên cân nhắc. Hình ảnh Đức Phật Di Lặc như thế không có lợi cho Phật giáo.

–  Không được đặt trực tiếp Tượng Phật xuống sàn nhà. Tượng Di Lặc ngồi với chiếc bụng bự làm nhiều người tưởng nhầm với ông Địa nên hay bày ở góc nhà, Tuy nhiên Phật Di Lặc là một vị Phật uy nghiêm của Phật giáo, việc trưng bày dưới đất thể hiện thái độ bất kính.

–  Không được để trong các không gian riêng tư như phòng ngủ vì đây là không gian riêng tư và thiếu tôn trọng với Phật. Đặt tượng trong phòng ngủ còn dẫn tới những giấc ngủ mộng mị, ngủ không ngon giấc về lâu về dài ản hưởng không nhỏ đến sức khỏe.

–  Không đặt tượng gần hoặc hướng về những nơi như nhà vệ sinh, phòng ăn vì những khu vực này không sạch sẽ và thiếu sự trang nghiêm.

–  Không được đặt tượng Phật Di Lặc dưới chân gác hay cầu thang vì những khu vực này thường xuyên có người đi lại phía trên. Đặt tượng ở đây sẽ khiến cho gia đình hay gặp chuyện lận đận. Nên đặt tượng ở những chỗ trang trọng trong nhà.

–  Không nên thờ quá nhiều tượng Phật, tối đa chỉ nên là ba vị hay còn gọi là Tam Thế Phật. Ba vị phải được đặt đồng bậc đồng cấp với nhau.

–  Không được cất giấu tượng Phật trong két sắt, tủ, hộp hay rương khóa lại khiến Phật không hài lòng, người trong gia đình dễ đau ốm và gặp chuyện không may.

8/ CÁCH THỜ CÚNG PHẬT DI LẶC

Phật di lặc với nét mặt phúc hậu, mang nhiều tốt lành tuy nhiên, cần phải nhớ Phật di lặc là một vị Phật chứ không phải thần tài nên cách thờ cúng Phật Di lặc trong nhà cũng sẽ khác xa với thần tài.

Trước tiên, trước mặt Phật thì không nên cầu xin danh vọng hay tiền tài vật chất. Cúng lễ Phật Di Lặc là cúng chay.

Nguyên do dẫn đến việc làm trên là việc tay Đức Phật Di Lặc cầm vàng, cầm tiền, cười cầu tài. Đức Phật Di Lặc bị thần tài hóa, nhưng tệ hơn, một thứ thần tài không được thờ cúng trang trọng, mà đẩy ra cửa, ra phòng khách làm người tiếp thị.

Hình ảnh mà người theo đạo Phật rất kính trọng, tôn thờ, mang tính chất thiêng liêng, là Phật tử, chúng ta nên hiểu đúng ngài là ai, và không nên trưng bày như một hình nộm tiếp thị.

Điều đó nguyên do dẫn đến những kiểu như thịt nướng Buddha, mì gói A Di Đà, dầu gió Phật Linh, đèn cầy Quan Âm… là những điều tối kỵ.

9/ QUY TRÌNH ĐIÊU KHẮC TƯỢNG PHẬT DI LẶC BỒ TÁT TẠI TRẦN GIA:

Tượng Phật Di Lặc bằng chất liệu nhựa composite sẽ được các điêu khắc gia tài năng của Trần Gia tôn tạo theo quy trình sau:

  • Tư vấn khách hàng lựa chọn mẫu mã, kích thước, màu sắc tôn tượng phù hợp dựa vào hình ảnh hoặc tượng mẫu.
  • Tiến hành tạo mẫu trên đất sét và chỉnh sửa theo ý khách hàng, tác phẩm phải đảm bảo thể hiện được thần thái, sự từ bi, nét tươi sáng của Đức Phật.
  • Chụp khuôn tượng bằng thạch cao.
  • Ra tượng thô chất lượng cao trên chất liệu composite.
  • Làm nguội, xử lý tượng thô tỉ mỉ, cẩn thận.
  • Sơn vẽ chuyên nghiệp theo yêu cầu của khách hàng.
  • Đóng kiện tôn tượng theo quy trình chuẩn của Trần Gia, đảm bảo an toàn trong quá trình vận chuyển.
  • Vận chuyển miễn phí trong nước đến nơi an vị theo yêu cầu của khách hàng.

Để tìm đọc thêm nhiều kiến thức hữu ích về Phật Di Lặc và xem nhiều mẫu tượng Phật , các bạn đừng quên truy cập tại website của Tượng Phật Trần Gia. Nếu các bạn có mong muốn thỉnh tượng Phật Di Lặc thì cũng đừng ngần ngại liên hệ Tượng Phật Trần Gia để nhận tư vấn miễn phí nhé!

Và cuối cùng, cùng xem các Quý Chư tăng, Phật tử từ khắp trong và ngoài nước cảm nhận về các tác phẩm điêu khắc của Tượng Phật Trần Gia các bạn nhé!

 

Mời quý Phật tử cùng chiêm ngưỡng hết các mẫu tượng Phật đẹp nhất do điêu khắc Trần Gia tôn tạo nhé:


* Tượng Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni


* Tượng Phật Bà Quan Thế Âm Bồ Tát


* Tượng Phật Địa Tạng Vương Bồ Tát.


* Tượng Phật Văn Thù Sư Lợi – Phổ Hiền Bồ Tát .


* Tượng Phật A Di Đà.


* Tượng Đạt Ma Sư Tổ.


* Tượng Phật Di Lặc Bồ Tát.


* Tượng Tiêu Diện Đại Sĩ – Vi Đà Hộ Pháp.

 

Với các thế mạnh trên của Tượng Phật Trần Gia, chúng tôi đã, đang và sẽ đem lại sự hài lòng tuyệt đối đến với các khách hàng có nhu cầu thỉnh Tượng Phật để cúng dường hoặc thờ tại gia v..vv

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *