NGƯỜI TU TẠI GIA VÀ 4 BÀI KINH PHẬT LINH NGHIỆM KHÔNG THỂ KHÔNG BIẾT

NGƯỜI TU TẠI GIA VÀ 4 BÀI KINH PHẬT LINH NGHIỆM KHÔNG THỂ KHÔNG BIẾT

Người ta thường quan niệm rằng tu luyện thì phải xuất gia vào chùa, đoạn tuyệt thế sự, chịu khổ mà tu luyện.

Tuy nhiên, Đạo Phật quan niệm trong mỗi người đều có cả Phật tính và Ma tính.

Vậy nên đạo của Phật Đà nằm ở tu “Thiện”, ức chế Ma tính, khơi gợi và phát triển Phật tính trong bản thân mỗi người. Do đó, Đạo Phật cũng rất khuyến khích các Phật tử tu tại gia.

4 bài kinh: Chú Đại bi, Kinh A di đà, Kinh Phổ Môn, Kinh Dược sư là 4 bài kinh với nhiều câu chuyện linh ứng để lại được các sư thầy khuyên Phật tử tu tại gia cần phải học để lời nói và việc làm đúng đắn, phù hợp, tạo được nhiều phúc đức và xua đi nỗi khổ đau trong cuộc sống.

1/ CHÚ ĐẠI BI

Chú Đại Bi, hay Đại Bi Tâm Đà La Ni (Maha Karunika citta Dharani), là bài chú căn bản minh họa công đức nội chứng của Đức Quán Tự Tại Bồ Tát (Avalokiteśvara Bodhisatva).

Bài chú này còn có các tên gọi là: Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Đại Bi Tâm Đà La Ni, Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni, Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Tự Tại Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni, Thanh Cảnh Đà La Ni…

Bài kinh:

Nam-mô Đại-bi Hội-Thượng Phật Bồ-tát (3 lần)
Thiên thủ thiên nhãn, vô ngại Đại-bi tâm đà-la-ni.

Nam-mô hắc ra đát na, đá ra dạ da. Nam-mô a rị da, bà lô Yết-đế, thước bát ra da, bồ đề tát đỏa bà da. Ma-ha-tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da. Án tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát tỏa. Nam-mô tất kiết lật đỏa, y mông a rị da bà lô Yết-đế, thất Phật ra lăng đà bà. Nam-mô na ra cẩn trì hê rị, ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu du bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà đà, ma phạt đặc đậu, đát điệt tha. Án a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê rị, ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê, rị đà dựng, câu lô câu lô kiết mông, độ lô độ lô phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà la đà la, địa rị ni, thất Phật ra da, dá ra dá ra. Ma mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê y hê, thất na thất na, a ra sâm Phật ra xá lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ đề dạ, bồ đề dạ, bồ đà dạ, bồ đà dạ, di đế rị dạ, na ra cẩn trì, địa rị sắt ni na, ba dạ ma na ta-bà ha, tất đà dạ ta-bà ha. Ma ha tất đà dạ ta-bà ha. Tất đà du nghệ thất bàn ra dạ ta-bà ha. Na ra cẩn trì ta-bà ha. Ma ra na ra ta-bà ha. Tất ra tăng a mục khư da, ta-bà ha. Ta-bà ma ha, a tất đà dạ ta-bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ ta-bà ha. Ba đà ma kiết tất đà dạ ta-bà ha. Na ra cẩn trì bàn dà ra dạ ta-bà ha. Ma bà rị thắng yết ra dạ, ta-bà ha. Nam-mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam-mô a rị da bà lô Yết-đế thước bàn ra dạ, ta-bà ha.

Nguồn gốc của Chú Đại Bi

Chân ngôn này được trích từ Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Ðại Viên Mãn Vô Ngại Ðại Bi Tâm Ðà La Ni Kinh. Trong kinh ngài Quán Thế Âm Bồ Tát bạch Phật rằng:

“Bạch đức Thế Tôn, tôi có chú Đại Bi tâm đà ra ni, nay xin nói ra, vì muốn cho chúng sanh được an vui, được trừ tất cả bệnh, được sống lâu, được giàu có, được diệt tất cả nghiệp ác tội nặng, được xa lìa chướng nạn, được thành tựu tất cả thiện căn, được tiêu tan tất cả sự sợ hãi, được mau đầy đủ tất cả những chỗ mong cầu. Cúi xin Thế Tôn từ bi doãn hứa.”, rồi sau đó đọc Chú Đại Bi.

Bồ tát thuyết chú xong, cõi đất sáu phen biến động, trời mưa hoa báu rơi xuống rải rác, mười phương chư Phật thảy đều vui mừng, thiên ma ngoại đạo sợ dựng lông tóc. Tất cả chúng hội đều được quả chứng.”

Câu chuyện linh nghiệm:

Cách đây 5 năm, đứa cháu gái kêu tôi bằng dì bỗng nhiên bị chứng bệnh lạ. Nó không thể nuốt cơm hay bất cứ thức ăn gì. Mỗi lần nuốt, nó thường bị nghẽn thở, mặt tái xanh và phải đưa đi cấp cứu.

Gia đình đã đưa cháu đi khám từ bệnh viện tỉnh rồi tới bệnh viện ở Sài Gòn. Mỗi bệnh viện, bác sĩ định bệnh một cách nhưng tựu trung cháu vẫn không nuốt được. Trải qua bốn tháng, cháu chỉ còn 29kg. Mỗi ngày phải nhờ bác sĩ tới nhà truyền dịch, truyền đạm và đưa thức ăn qua ống.

Tôi vốn tin Phật nên nói với gia đình cầu nguyện cho cháu. Thời gian đầu, có lẽ mọi người không đủ lòng tin, họ cũng cầu nguyện nhưng bệnh của cháu vẫn không thuyên giảm.

Tất cả những bệnh viện nổi tiếng của Sài Gòn đều không tìm ra bệnh. Có lần, một bác sĩ đã hỏi: “Cô có tin trời Phật không?”. Đứa cháu trả lời: “Dạ có”. Bác sĩ lại nói: “Vậy cô về cầu nguyện đi. Cô không có bệnh”.

Thương cháu và dù biết cả nhà chưa đủ lòng tin, tôi vẫn làm theo cách của mình. Mỗi ngày, tôi trì chú Đại bi hai lần sáng chiều mỗi lần khoảng một giờ. Tôi cầu nguyện chân thành, đọc chú cẩn trọng và hồi hướng công đức cho cháu.

Một tháng rồi hai tháng trôi qua, người nhà đi coi bói, thầy bói nói còn một tháng nữa là cháu chết. Tôi vẫn hết lòng cầu nguyện…

Một chiều, tôi vừa cầu nguyện xong thì viết hai lá thăm – Qua khỏi và Không qua khỏi. Tôi kính lạy và niệm danh hiệu Bồ-tát Quán Thế Âm. Tôi khấn: “Xin Mẹ cho con biết đứa cháu có qua khỏi hay không? Con xin Mẹ chỉ dạy!”.

Tôi cúi lạy ba lạy rồi bốc lấy một lá. Tất cả đều trong tay của Mẹ mà! Lá thăm bốc được có hai chữ “Qua khỏi”.

Tôi mừng rơi nước mắt vội đến nhà cho má cháu hay. Lúc này, cháu đang cùng với chồng tái khám ở một bệnh viện tại Sài Gòn.

Chiều ngày sau, tôi nghe cháu gọi: “Năm ơi! Chắc con chết ! Bác sĩ kêu con về, nói con không có bệnh”.

Tôi lật đật thắp nhang và khấn: “Cầu Mẹ phù hộ cho cháu, tất cả đều trong tay Mẹ mà!”.

Cách tuần sau sau vợ chồng cháu về, trông bộ dạng nó có vẻ khá hơn. Ăn được chén cháo, uống thuốc xong rồi cháu lăn ra ngủ.

Chồng cháu kể lại, “Lúc gọi cho Năm thì hai vợ chồng cháu đang ngồi trong taxi định ra bến xe để về.

Người tài xế nghe vợ cháu khóc, nói chắc chết nên hỏi thăm và đưa vợ chồng cháu tới một bác sĩ thần kinh.

Bác sĩ khám và cho hai tuần thuốc với giá rất bình dân. Uống thuốc mấy ngày sau vợ cháu thấy bớt và sức khỏe đã ổn định tới giờ”.

Đành rằng, cháu tôi có duyên gặp đúng thầy đúng thuốc. Vị bác sĩ ấy đã cứu cháu tôi.

Nhưng tự trong lòng, tôi tin nhờ sự cầu nguyện chân thành và nhất tâm trì chú nên cháu tôi mới hội đủ duyên lành để được cứu chữa.

Đức Phật và Bồ-tát không nhất thiết hiện ra để cứu độ chúng sanh, nhưng các Ngài có thể trợ duyên bằng cách cho người tài xế taxi chỉ dẫn, kể lại chuyện này chỉ mong đem chút lòng tin, trao truyền khắp cả.

2/ KINH A DI ĐÀ

Trong Phật giáo thì Kinh A Di Đà chính là một bản kinh rất phổ biến được truyền tụng hàng ngày trong đời sống đạo của các Phật tử ở các nước Châu Á, đặc biệt là ở Việt Nam.

Kinh A Di Đà là kinh khen ngợi công đức và được tất cả chư Phật hộ niệm. Kinh này chuyển tải nội dung rất sâu xa do đức Phật Thích Ca Mâu Ni tự giảng nói.

Pháp niệm A Di Đà là chỉ nơi tâm mà hành trì, chứ không qua trung gian phương tiện giúp chúng ta đạt đến nhất tâm bất loạn.

Cõi tịnh độ của Phật A Di Đà được ẩn dụ cho sự vô thủy vô chung. Còn gọi là vô lượng thọ, vô lượng quang, hay pháp giới tạng thân.

Bài kinh:

Như thị ngã văn: Nhứt thời Phật tại Xá Vệ quốc, Kỳ thọ Cấp Cô Độc viên, dữ đại Tỳ kheo tăng, thiên nhị bá ngũ thập nhơn câu, giai thị đại A La hán, chúng sở tri thức:

Trưởng lão Xá Lợi Phất, Ma Ha Mục Kiền Liên, Ma Ha Ca Diếp, Ma Ha Ca Chiên Diên, Ma Ha Câu Hy La, Li Bà Đa, Châu Lợi Bàn Đà Dà, Nan Đà, A Nan Đà, La Hầu La, Kiều Phạm Ba Đề, Tân Đầu Lô Phả La Đọa, Ca Lưu Đà Di, Ma Ha Kiếp Tân Na, Bạc Câu La, A Nâu Lâu Đà, như thị đẳng chư đại đệ tử, tinh chư Bồ tát Ma ha tát. Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử, A Dật Đa Bồ tát, Càn Đà Ha Đề Bồ tát, Thường Tinh Tấn Bồ tát, dữ như thị đẳng, chư đại Bồ tát; cập Thích Đề Hoàn Nhơn đẳng, vô lượng chư thiên, đại chúng câu.

Nhĩ thời Phật cáo Trưởng lão Xá Lợi Phất: “Tùng thị Tây phương quá thập vạn ức Phật độ, hữu thế giới danh viết Cực lạc kỳ độ hữu Phật hiệu A Di Đà, kim hiện tại thuyết pháp”.

Xá Lợi Phất! Bỉ độ hà cố danh vi Cực lạc? Kỳ quốc chúng sanh vô hữu chúng khổ, đản thọ chư lạc, cố danh Cực lạc. Hựu Xá Lợi Phất! Cực lạc quốc độ, thất trùng lan thuẫn, thất trùng la võng, thất trùng hàng thọ, giai thị tứ bảo, châu tráp vi nhiễu, thị cố bỉ quốc danh vi Cực lạc.

Hựu Xá Lợi Phất! Cực lạc quốc độ, hữu thất bảo trì, bát công đức thủy, sung mãn kỳ trung, trì để thuần dĩ kim sa bố địa, tứ biên giai đạo, kim ngân, lưu ly, pha lê hiệp thành; thượng hữu, lâu các, diệc dĩ kim ngân, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mã não nhi nghiêm sức chi. Trì trung liên hoa, đại như xa luân, thanh sắc thanh quang, huỳnh sắc huỳnh quang, xích sắc xích quang, bạch sắc bạch quang, vi diệu hương khiết.

Xá Lợi Phất! Cực lạc quốc độ thành tựu như thị công đức trang nghiêm.

Hựu Xá Lợi Phất! Bỉ Phật quốc độ thường tác thiên nhạc, huỳnh kim vi địa, trú dạ lục thời, vũ thiên mạn đà la hoa, kỳ độ chúng sanh thường dĩ thanh đán, các dĩ y kích thạnh chúng diệu hoa cúng dường tha phương thập vạn ức Phật, tức dĩ thực thờ hoàn đáo bổn quốc, phạn thực kinh hành.

Xá Lợi Phất! Cực lạc quốc độ thành tựu như thị công đức trang nghiêm.

Phục thứ Xá Lợi Phất! Bỉ quốc thường hữu chủng chủng kỳ diệu, tạp sắc chi điểu: Bạch hạc, Khổng tước, Anh võ, Xá lợi, Ca lăng tần già, Cộng mạng chi điểu, thị chư chúng điểu, trú dạ lục thời, xuất hòa nhã âm, kỳ âm diễn xướng: ngũ căn, ngũ lực, thất Bồ đề phần, bát Thánh đạo phần, như thị đẳng pháp, kỳ độ chúng sanh văn thị âm dĩ, giai tất niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.

Xá Lợi Phất! Nhữ vật vị thử điểu, thiệt thị tội báo sở sanh. Sở dĩ giả hà? Bỉ Phật quốc độ vô tam ác đạo.

Xá Lợi Phất! Kỳ Phật quốc độ thượng vô ác đạo chi danh, hà huống hữu thiệt, thị chư chúng điểu, giai thị A Di Đà Phật dục linh pháp âm tuyên lưu biến hóa sở tác.

Xá Lợi Phất! Bỉ Phật quốc độ vi phong xuy động, chư bảo hàng thọ, cập bảo la võng, xuất vi diệu âm, thí như bá thiên chủng nhạc đồng thời cu tác, văn thị âm giả, tự nhiên giai sanh: niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng chi tâm.

Xá Lợi Phất! Kỳ Phật quốc độ, thành tựu như thị công đức trang nghiêm.

Xá Lợi Phất! Ư nhữ ý vân hà? Bỉ Phật hà cố hiệu A Di Đà?

Xá Lợi Phất! Bỉ Phật quang minh vô lượng, chiếu thập phương quốc, vô sở chướng ngại, thị cố hiệu vi A Di Đà.

Hựu Xá Lợi Phất! Bỉ Phật thọ mạng, cập kỳ nhơn dân, vô lượng vô biên A tăng kỳ kiếp, cố danh A Di Đà.

Xá Lợi Phất! A Di Đà Phật thành Phật dĩ lai, ư kim thập kiếp.

Hựu Xá Lợi Phất! Bỉ Phật hữu vô lượng vô biên Thinh văn đệ tử, giai A la hán, phi thị toán số chi sở năng tri; chư Bồ tát chúng diệc phục như thị.

Xá Lợi Phất! Bỉ Phật quốc độ thành tựu như thị công đức trang nghiêm.

Hựu Xá Lợi Phất! Cực lạc quốc độ chúng sanh sanh giả, giai thị a bệ bạt trí, kỳ trung đa hữu nhứt sanh bổ xứ, kỳ số thậm đa phi thị toán số, sở năng tri chi, đản khả dĩ vô lượng vô biên a tăng kỳ thuyết.

Xá Lợi Phất! Chúng sanh văn giả, ưng đương phát nguyện, nguyện sanh bỉ quốc. Sở dĩ giả hà? Đắc dữ như thị chư thượng thiện nhơn câu hội nhứt xứ.

Xá Lợi Phất! Bất khả dĩ thiểu thiện căn phước đức nhơn duyên, đắc sanh bỉ quốc.

Xá Lợi Phất! Nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhơn, văn thuyết A Di Đà Phật, chấp trì danh hiệu, nhược nhứt nhựt, nhược nhị nhựt, nhược tam nhựt, nhược tứ nhựt, nhược ngũ nhựt, nhược lục nhựt, nhược thất nhựt, nhứt tâm bất loạn. Kỳ nhơn lâm mạng chung thời, A Di Đà Phật dữ chư Thánh chúng, hiện tại kỳ tiền, thị nhơn chung thời, tâm bất điên đảo, tức đắc vãng sanh A Di Đà Phật Cực lạc quốc độ.

Xá Lợi Phất! Ngã kiến thị lợi, cố thuyết thử ngôn, nhược hữu chúng sanh văn thị thuyết giả, ưng đương phát nguyện, sanh bỉ quốc độ.

Xá Lợi Phất! Như ngã kim giả, tán thán A Di Đà Phật bất khả tư nghị công đức chi lợi.

Đông phương diệc hữu A Súc Bệ Phật, Tu Di Tướng Phật, Đại Tu Di Phật, Tu Di Quang Phật, Diệu Âm Phật; như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú tam thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thiệt ngôn: “Nhữ đẳng chúng sanh đương tín thị xưng tán bất khả tư nghị công đức nhứt thiết chư Phật sở hộ niệm kinh”.

Xá Lợi Phất! Nam phương thế giới hữu Nhựt Nguyệt Đăng Phật, Danh Văn Quang Phật, Đại Diệm Kiên Phật, Tu Di Đăng Phật, Vô Lượng Tinh Tấn Phật; như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú tam thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thiệt ngôn: “Nhữ đẳng chúng sanh đương tín thị, xưng tán bất khả tư nghị công đức nhứt thiết chư Phật sở hộ niệm kinh”.

Xá Lợi Phất! Tây Phương thế giới hữu Vô Lượng Thọ Phật, Vô Lượng Tướng Phật, Vô Lượng Tràng Phật, Đại Quang Phật, Đại Minh Phật, Bảo Tướng Phật, Tịnh Quang Phật; như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú tam thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thiệt ngôn: “Nhữ đẳng chúng sanh đương tín thị, xưng tán bất khả tư nghị công đức nhứt thiết chư Phật sở hộ niệm kinh”.

Xá Lợi Phất! Bắc phương thế giới, hữu Diệm Kiên Phật, Tối Thắng Âm Phật, Nan Trở Phật, Nhựt Sanh Phật, Võng Minh Phật; như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú tam thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thiệt ngôn: “Nhữ đẳng chúng sanh đương tín thị, xưng tán bất khả tư nghị công đức nhứt thiết chư Phật sở hộ niệm kinh”.

Xá Lợi Phất! Hạ phương thế giới, hữu Sư Tử Phật, Danh Văn Phật, Danh Quang Phật, Đạt Ma Phật, Pháp Tràng Phật, Trì Pháp Phật; như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú tam thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thiệt ngôn: “Nhữ đẳng chúng sanh đương tín thị, xưng tán bất khả tư nghị công đức nhứt thiết chư Phật sở hộ niệm kinh”.

Xá Lợi Phất! Thượng phương thế giới, hữu Phạm Âm Phật, Tú Vương Phật, Hương Thượng Phật, Hương Quang Phật, Đại Diệm Kiên Phật, Tạp Sắc Bảo Hoa Nghiêm thân Phật, Ta La Thọ Vương Phật, Bảo Hoa Đức Phật, Kiến Nhứt Thiết Nghĩa Phật, Như Tu Di Sơn Phật; như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú tam thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thiệt ngôn: “Nhữ đẳng chúng sanh đương tín thị, xưng tán bất khả tư nghị công đức nhứt thiết chư Phật sở hộ niệm kinh”.

Xá Lợi Phất! Ư nhữ ý vân hà? Hà cố danh vi: Nhứt thiết chư Phật sở hộ niệm kinh?

Xá Lợi Phất! Nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhơn văn thị kinh thọ trì giả, cập văn chư Phật danh giả, thị chư thiện nam tử, thiện nữ nhơn, giai vi nhứt thiết chư Phật chi sở hộ niệm, giai đắc bất thối chuyển ư A nậu đa la tam miệu tam Bồ đề. Thị cố Xá Lợi Phất! Nhữ đẳng giai đương tín thọ ngã ngữ, cập chư Phật sở thuyết.

Xá Lợi Phất! Nhược hữu nhơn dĩ phát nguyện, kim phát nguyện, đương phát nguyện, dục sanh A Di Đà Phật quốc giả, thị chư nhơn đẳng giai đắc bất thối chuyển ư A nậu đa la tam miệu tam Bồ đề, ư bỉ quốc độ nhược dĩ sanh, nhược kim sanh, nhược đương sanh.

Thị cố Xá Lợi Phất! Chư thiện nam tử, thiện nữ nhơn, nhược hữu tín giả, ưng đương phát nguyện sanh bỉ quốc độ.

Xá Lợi Phất! Như ngã kim giả, xưng tán chư Phật bất khả tư nghị công đức, bỉ chư Phật đẳng, diệc xưng tán ngã bất khả tư nghị công đức nhi tác thị ngôn: “Thích Ca Mâu Ni Phật năng vi thậm nan hy hữu chi sự, năng ư Ta bà quốc độ ngũ trược ác thế: kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sanh trược, mạng trược trung đắc A nậu đa la tam miệu tam Bồ đề, vị chư chúng sanh, thuyết thị nhứt thiết thế gian nan tín chi pháp”.

Xá Lợi Phất! Đương tri ngã ư ngũ trược ác thế, hành thử nan sự, đắc A nậu đa la tam miệu tam Bồ đề, vị nhứt thiết thế gian thuyết thử nan tín chi pháp, thị vi thậm nan.

Phật thuyết thử kinh dĩ, Xá Lợi Phất cập chư Tỳ kheo, nhứt thiết thế gian, Thiên, Nhơn, A tu la đẳng, văn Phật sở thuyết, hoan hỷ tín thọ, tác lễ nhi khứ.

Nguồn gốc kinh A Di Đà

Trong hệ thồng kinh Phật thì Kinh A Di Đà thuộc hệ tư tưởng Đại thừa, ra đời trong thời kỳ phát triển Đại thừa Phật giáo.

Kinh A Di Đà (tiểu bản Sukhàvatì – vyùha) là một bản toát yếu của Đại Vô Lượng Thọ Kinh (đại phẩm Sukhàvatì – vyùha), dịch từ Phạn bản qua Hán bản.

Bản Kinh người viết dùng làm tư liệu tham khảo ở đây là bản dịch của Pháp sư Cưu Ma La Thập đời Diêu Tần, một trong toàn tập Tịnh Độ dịch từ năm 147 đến năm 713 sau Tây lịch.

Tập kinh Quán Vô Lượng Thọ (Amitayur – Dhyàna Sutra) cho ta biết nguyên lai của giáo lý Tịnh độ do Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết. A Xà Thế, Thái tử thành Vương Xá, nổi loạn chống lại vua cha là Tần Bà Sa La và hạ ngục nhà vua này; hoàng hậu cũng bị giam vào một nơi.

Sau đó, hoàng hậu cầu thỉnh Đức Phật chỉ cho bà một chỗ tốt đẹp hơn, nơi không có những tai biến xảy ra như vậy.

Đức Thế Tôn liền hiện thân trước mặt bà và thị hiện cho thấy tất cả các Phật độ và bà chọn quốc độ của Phật A Di Đà coi như tối hảo, Phật bèn dạy bà cách tụng niệm về quốc độ này để sau cùng được thác sinh vào đó. Ngài dạy bà bằng giáo pháp riêng của Ngài và đồng thời giảng giáo pháp của Phật A Di Đà.

Cả hai giáo pháp cuối cùng chỉ là một, điều này ta có thể thấy rõ theo những lời Ngài dạy Tôn giả A Nan ở đoạn cuối của các bài pháp: “Này A Nan, hãy ghi nhớ bài thuyết pháp này và lặp lại cho đại chúng ở Kỳ Xà Quật nghe. Thuyết giáo này, ta gọi đấy là Kinh A Di Đà”.

Quan điểm đó của kinh Quán Vô Lượng Thọ như muốn nói lên giáo lý A Di Đà cùng nguồn gốc với giáo lý Nguyên thủy, đều do Đức Thế Tôn thuyết. (Các tông phái đạo Phật, bản dịch của Tuệ Sỹ, Tu thư Đại học Vạn Hạnh 1973, tr.329).

3/ KINH PHỔ MÔN

Tên gọi thông thường của bài kinh này là Phẩm Phổ Môn, Kinh Phổ Môn hay Kinh Quán Thế Âm và gọi đủ là Quan Thế Âm Bồ tát Phổ Môn Phẩm.

Đây là bài kinh nói về hạnh nguyện độ sanh của Bồ tát Quan Thế Âm, và thông qua đó, giới thiệu cách “quán chiếu” cuộc đời để đạt được giác ngộ và giải thoát như phương pháp tu tập phổ biến và có hiệu quả trong cõi Ta bà.

Kinh Phổ Môn, đức Phật dạy về hạnh nguyện cứu khổ cứu nạn cho tất cả chúng sinh của đức Bồ Tát Quán Thế Âm. Khi gặp khổ nạn, nhất tâm xưng niệm danh hiệu Đức Bồ Tát Quán Thế Âm thì Ngài sẽ hướng theo âm thanh cầu cứu đó mà giải cứu khổ nạn cho.

Bài kinh:

(ĐỈNH LỄ TAM BẢO)
Tất thảy cung kính.
Dốc lòng kính lạy Phật – Pháp – Tăng thường ở khắp mười phương. (3 lễ)

(DÂNG HƯƠNG)
Chúng con kính dâng lễ phẩm
Nguyện hương thơm bay tận mười phương
Cúi xin Phật rủ lòng thương
Chứng cho con có tâm hương cúng dàng
Hương cầu đạo mở mang khắp cõi
Để chúng sinh được khởi Phật tâm. (1 vái)

Cúng dàng rồi – Tất thảy cung kính.
Dốc lòng kính lạy Phật – Pháp – Tăng thường ở khắp mười phương. (1 lễ)

(CA NGỢI ĐỨC PHẬT)
Ơn Đức Phật sáng soi đuốc tuệ
Đạo cao siêu không thể nghĩ bàn
Hoá thân biến khắp không gian
Giáo lý mầu nhiệm khai quang sáng ngời
Đủ phương tiện độ đời cứu kính
Khắp loài phàm, Trời, Thánh quy y
Tấm lòng hỷ xả từ bi
Cứu khổ cứu nạn thật vì chúng sinh.
Tám mươi vẻ thân hình tột bậc
Đủ ba hai tướng tốt khác thường
Uy nghi cảm hoá mười phương
Khiến cho các cõi được nương tựa nhờ.
Con bao kiếp mê mờ chính Pháp
Nhờ thiện duyên nay được làm người
Lại may được gặp Phật rồi
Dốc lòng kính lạy xin Ngài xét soi.
Đường Thánh Đạo con noi gương sáng
Lấy tâm từ xả oán trừ mê
Nguyện cho chúng sinh cùng về
Cực Lạc thế giới là quê muôn đời.
Án Phạ Nhật La Vật. (3 lần) 1 vái
(BA LẠY)

  • Chí tâm đỉnh lễ: Nam mô tận hư không biến pháp giới quá, hiện, vị lai Thập phương chư Phật, Tôn Pháp, Hiền Thánh Tăng thường trụ Tam Bảo. (1 lễ)
  • Chí tâm đỉnh lễ: Nam mô Sa Bà Giáo Chủ Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đương Lai Hạ Sinh Di Lặc Tôn Phật, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, Hộ Pháp Chư Tôn, Linh Sơn Hội Thượng Phật, Bồ Tát.(1 lễ)
  • Chí tâm đỉnh lễ: Nam mô Tây Phương Cực Lạc thế giới Đại Từ Đại Bi tiếp dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật, Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. (1 lễ)

(SÁM HỐI)
Con nay khắp vì bốn ân ba cõi pháp giới chúng sinh, tất nguyện đoạn trừ tam chướng quy mệnh sám hối: (1 lễ)

Đệ tử chúng đẳng chí tâm sám hối:
Xưa kia con tạo bao nghiệp ác
Đều do ba độc: tham, sân, si
Từ thân, miệng, ý phát sinh ra
Hết thảy, con nay cầu sám hối
Bao nhiêu nghiệp chướng sâu nhường ấy
Thảy đều tiêu diệt được yên vui
Niệm niệm cùng khắp trong cõi Pháp
Rộng độ chúng sinh chẳng thoái lui. (1 vái)

Sám hối phát nguyện rồi, quy mệnh lễ Quán Thế Âm Bồ Tát cùng khắp bậc Tam Bảo.

(3 lễ) 1 vái

(TÁN HƯƠNG)
Lư hương vừa bén chiên đàn
Khắp trong cõi pháp Đạo Tràng thơm thay
Hải hội chư Phật đều hay
Theo chỗ dâng kết đài mây trong lành
Ân cần giãi tỏ lòng thành
Toàn thân chư Phật hiện hành độ cho.
Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát. (3 lần) 1 vái

TỊNH PHÁP GIỚI CHÂN NGÔN
Án lam, sa ha. (7 lần)

VĂN THÙ HỘ THÂN CHÂN NGÔN
Án sỉ lâm, bộ lâm. (7 lần)

ĐẠI PHẬT ĐỈNH THỦ LĂNG NGHIÊM CHÚ
Án a na lệ tỳ sá đề, bệ ra bạt đà ra đà rị, bàn đà, bàn đa lễ, bạt đà ra, báng ni phấn, hổ hấn đô lư úng phấn sa bà ha. (3 lần)

AN THỔ ĐỊA CHÂN NGÔN
Nam mô tam mãn đá một đà nẫm, án độ rô độ rô, địa vĩ tát bà ha. (3 lần)

PHẢ CÚNG DÀNG CHÂN NGÔN
Án nga nga nẵng, tam bà phạ phiệt nhật ra hộc. (3 lần)
THIÊN THỦ THIÊN NHÃN VÔ NGẠI ĐẠI BI TÂM ĐÀ LA NI

Nam mô hát ra đát na đá ra dạ gia, nam mô a rị gia, bà lô yết đế, thước bát ra gia, bồ đề tát đá bà gia, ma ha tát đá bà da, ma ha ca lô ni ca gia. Án tát bàn ra phạt duệ số đát na đát tả. Nam mô tất cát lị đoá y mông, a lị gia, bà lô cát đế thất Phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn trì, hê lị ma ha bàn đá sa mế, tát bà a tha đậu thâu bằng, a thệ dậng, tát bà tát đá, na ma bà tát đá, na ma bà già, ma phạt đặc đậu, đát điệt tha. Án a bà lô hê, lô ca đế, ca la đế, di hê rị, ma ha bồ đề tát đoả, tát bà tát bà, ma la ma la, ma hê ma hê rị đà dậng, câu lô câu lô yết mông, độ lô độ lô phạt sà gia đế, ma ha phạt sà gia đế, đà la đà la, địa lị ni, thất Phật ra gia, gia ra gia ra, ma ma phạt ma ra, mục đế lệ, y hê di hê, thất na thất na, a ra sấm Phật, ra xá lị, phạt sa phạt sấm Phật ra sá da, hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê lị, sa ra sa ra, tất lị tất lị, tô lô tô lô, bồ đề dạ bồ đề dạ, bồ đà dạ bồ đà dạ, di đế lị dạ, na ra cẩn trì, địa lị sắt ni na, ba dạ ma na sa bà ha, tất đà dạ sa bà ha, ma ha tất đà dạ sa bà ha, tất bà dụ nghệ, thất phàn ra gia, sa bà ha, na ra cẩn trì, sa bà ha, ma ra na ra, sa bà ha, tất ra tăng a mục già da sa bà ha, sa bà ma ha, a tất đà dạ sa bà ha, giả cát ra a tất đà dạ sa bà ha, ba đà ma yết tất đá dạ, sa bà ha, na ra cẩn trì bàn già ra gia, sa bà ha, ma bà lị thắng yết ra dạ, sa bà ha. Nam mô hát ra đát na đá ra dạ gia, nam mô a rị gia bà lô cát đế thước phàn ra gia sa bà ha, Án tất điện đô mạn đá ra bạt đà da, sa bà ha.  (ít nhất 3 lần chú đại bi)

NHƯ Ý BẢO LUÂN VƯƠNG ĐÀ LA NI
Nam mô Phật Đà Gia
Nam mô Đạt Ma Gia
Nam mô Tăng Già Gia.
Nam mô Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát, cụ đại bi tâm giả, đát điệt tha, Án chước yết ra phạt để chấn đa mạt ni, ma ha bát đắng mế, rô rô rô rô, để sắt tra, thước ra A yết lị sa dạ, hồng phấn sa ha. Án bát đạp ma, chấn đa mạt ni, thước ra hồng, Án bát lạt đà, bát đản mế hồng.

TIÊU TAI CÁT TƯỜNG THẦN CHÚ
Nẵng mồ tam mãn đá mẫu đà nẫm, A bát ra để, hạ đa xá, sa nẵng nẫm, đát điệt tha, Án già già, già hế già hế, hồng hồng, nhập phạ ra, nhập phạ ra, bát ra nhập phạ ra, bát ra nhập phạ ra, để sắt sá, để sắt sá, sắt trí rị, sắt trí rị, sa phấn tra, sa phấn tra, phiến để ca, thất dị duệ, sa phạ ha. 0

CÔNG ĐỨC BẢO SƠN THẦN CHÚ
Nam mô Phật Đà Gia
Nam mô Đạt Ma Gia
Nam mô Tăng Già Gia.
Án tất đế hộ rô rô, tất đô rô, chỉ rị ba, cát rị bà, tất đạt rị, bố rô rị, sa phạ ha.

PHẬT MẪU CHUẨN ĐỀ THẦN CHÚ
Khể thủ quy y Tô Tất Đế
Đầu diện đỉnh lễ Thất Câu Chi
Ngã kim xưng tán Đại Chuẩn Đề
Duy nguyện từ bi thuỳ gia hộ.
Nam mô tát đá nẫm tam diểu tam bồ đà, câu chi nẫm, đát điệt tha, án chiết lệ, chủ lệ Chuẩn Đề sa bà ha.

THÁNH VÔ LƯỢNG THỌ QUYẾT ĐỊNH QUANG MINH VƯƠNG ĐÀ LA NI
Án nại ma ba cát ngoã đế, A ba la mật đạp, A ưu rị A nạp, tô tất lễ, thực chấp đạp, điệp tả ra tể dã, đát tháp nghiệt đạt dã, A ra ha đế, tam dược tam bất đạt dã, đát lễ dã tháp, án tát rị ba, tang tư cát rị, bát rị thuật đạp, đạt ra mã đế, nghiệt nghiệt nại tang, mã ngột nghiệt đế, sa ba ngoã tỷ thuật đế, mã hát nại dã, bát rị ngõa rị sa hát.

DƯỢC SƯ QUÁN ĐỈNH CHÂN NGÔN
Nam mô bạc già phạt đế, bệ sái xã, lũ rô bệ lưu ly, bát lạt bà, hát ra xà dã. Đát tha yết đa gia, a ra hát đế, tam diểu tam bột đà gia, đát điệt tha, Án, bệ sái thệ, bệ sái thệ, bệ sái xã, tam một yết đế sa ha.

QUÁN ÂM LINH CẢM CHÂN NGÔN
Án ma ni bát minh hồng, ma hạt nghê nha nạp, tích đô đặc, ba đạt tích đặc ta nạp, vi đạt rị cát tát, nhi cán nhi tháp, bốc rị tất tháp, cát nạp bổ ra nạp, nạp bốc rị, đâu thắc ban nạp, nại ma lô cát, thuyết ra da sa ha.

THẤT PHẬT DIỆT TỘI CHÂN NGÔN
Li bà li bà đế, cầu ha cầu ha đế, đà ra ni đế, ni ha ra đế, tỳ lê nễ đế, ma ha già đế, chân lăng kiền đế, sa bà ha.

VÃNG SINH TỊNH ĐỘ THẦN CHÚ
Nẵng mồ A di đá bà dạ, đá tha già đá dạ, đá địa dạ tha, A di lị đô bà tỳ, A di lị đá, tất đam bà tỳ, A di lị đá, tỳ ca lan đế, A di lị đá, tỳ ca lan đá, già di nhị, già già na, chỉ đá ca lệ, sa bà ha

THIỆN THIÊN NỮ CHÚ
Nam mô Phật Đà
Nam mô Đạt Ma
Nam mô Tăng Già.
Nam mô thất lợi, ma ha đề tỵ gia, đát lễ dã tha, ba lợi phú lâu na giá lợi, tam mạn đà đạt xá ni, ma ha tỳ ha la già đế, tam mạn đà tỳ ni già đế, ma ha ca lợi dã, ba nễ ba ra ba nễ, tát lị phạ lật tha, tam mạn đà tu bát lê đế, phú lệ na, A lợi na, đạt ma đế ma ha tỳ cổ tất đế, ma ha di lặc đế, lâu bả tăng kỳ đế, hê đế tỷ, tăng kỳ hê đế, tam mạn đà A tha, A nâu bà ra ni.
Nam mô Ly Cấu Địa Bồ Tát Ma Ha Tát. (3 lần) 1 vái

NAM MÔ PHÁP HOA HỘI THƯỢNG CHƯ PHẨM TÔN KINH
Hơn sáu muôn lời bảy quyển vàng
Bao hàm diệu nghĩa rộng mênh mang
Đề Hồ khắp chốn nhuần thơm dịu
Cam Lộ toàn thân mát nhẹ nhàng
Ngọc trắng bên răng tuôn xá lợi
Sen hồng đầu lưỡi phóng hào quang
Dù cho tạo tội hơn non núi
Diệu pháp trì chưa tới mấy hàng.
Nam mô Linh Cảm Quán Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát. (3 lần)

KỆ KHAI KINH
Pháp Phật cao sâu rất nhiệm mầu
Muôn đời khó gặp dễ hay đâu
Con nay nghe thấy được trì thụ
Chân nghĩa Như Lai nguyện hiểu sâu.
Nam mô Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (3 lần)

4/ KINH DƯỢC SƯ

Bằng thiên nhãn thông, Đức Phật nói rằng cách đây hơn mười căn dà sa có một cõi nước tên là Tịnh Lưu Ly, nơi đó Đức Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai là giáo chủ. “Căn dà sa” nghĩa là hằng hà sa (cát sông Hằng), ngụ ý nói rằng cõi Phật này xa vô tận.

Tên gọi vị Phật là: Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, nghĩa là vị Phật này lấy hiệu là thầy thuốc để thể hiện lòng thương xót bằng từ tâm của vị Phật đến chúng sanh còn đau khổ, luôn lấy pháp dược để cứu mọi khổ đau của chúng sanh đang gánh chịu trong sự luân hồi.

      NGUYỆN HƯƠNG

Đốt nén tâm hương trước Phật đài,

Ngũ phần dâng trọn Đức Như Lai.

Cầu xin nhân loại lên bờ giác,

Hạnh phúc bình an khắp muôn loài.

Đốt nén tâm hương cúng Phật Đà,

Lòng thành gởi tận chốn bao la.

Cầu xin Tam Bảo thường gia hộ,

Đạo pháp hoằng thông đến mọi nhà.

Đốt nén tâm hương ở Ta bà,

Nhớ lời di huấn Đức Thích Ca.

Cầu xin Bồ Tát Tùng Địa Xuất,

Thầm giúp cho người tụng Pháp Hoa.

NAM MÔ HƯƠNG CÚNG DƯỜNG BỒ TÁT MA HA TÁT (3 lần)

TÁN PHẬT

Tâm Thế Tôn mảy trần không bợn,

Thân của Ngài vô tận phước lành.

Từ bi cứu khổ độ sanh,

Chúng con đảnh lễ chí thành quy y.

LỄ PHẬT

* Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tận Hư Không Biến Pháp Giới Quá, Hiện, Vị Lai Thập Phương Chư Phật, Tôn Pháp, Hiền Thánh Tăng Thường Trụ Tam Bảo (1 lạy).

* Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ta Bà Giáo Chủ Điều Ngự Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, Hộ Pháp Chư tôn Bồ tát, Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát (1 lạy).

* Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Đông phương Giáo chủ Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật, Nhật Quang Biến Chiếu Bồ tát, Nguyệt Quang Biến Chiếu Bồ tát, Cứu Thoát Bồ tát, Dược Sư hội thượng Phật Bồ tát (1 lạy).

TÁN DƯƠNG CHI

Cành dương nước pháp rưới ba ngàn

Quan Âm cam lộ cứu trần gian

Trời người trong sạch vào pháp giới

Lửa đỏ làm nên đóa sen vàng.

NAM MÔ THANH LƯƠNG ĐỊA BỒ TÁT MA HA TÁT (3 lần)

NAM MÔ ĐẠI BI HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ TÁT (3 lần)

            Đà la ni của tâm đại bi vô ngại:

Con xin quy y Phật, Pháp, Tăng, Tam bảo. Nguyện theo Bồ tát Quan Âm, vì Ngài có đủ sức mạnh của tâm đại bi. Con xin quy y với đấng cứu giúp loài người ra khỏi tai nạn. Vì Ngài có đủ thần lực nên gọi là Đấng toàn năng.

Con xin trì tụng thần chú của Ngài. Thần chú làm cho chúng sanh được an vui lợi ích. Thần chú rất là thù thắng, vì nó làm cho ác ma không thể tới gần; thật là linh nghiệm vì nó có thể tịnh hóa thế giới sanh tử luân hồi.

            Hãy tụng Thần chú như sau: Cúi xin Đấng sáng chói, Đấng có trí tuệ sáng chói, Đấng siêu thoát thế gian, Bậc sư tử vương, Bậc Bồ tát vĩ đại! Xin Ngài hãy ức niệm chơn ngôn, trì tụng chơn ngôn, làm cho chơn ngôn linh nghiệm.

            Đấng tối thắng, hỡi Đấng tối thắng! Xin Ngài làm cho thần chú linh nghiệm.

 Đấng đại tự tại! Xin Ngài phát huy sức mạnh thần thông tự tại. Xin Ngài phát huy sức mạnh đại tự tại.

 Đấng không ô nhiễm, Đấng xa rời trần cấu, Đấng có thân hình không ô nhiễm! Hãy đến, xin Ngài xuất hiện.

            Đấng tự tại trong đời! Xin Ngài trừ độc tham lam, trừ độc sân hận, trừ độc ngu si tham ái, trừ sạch phiền não nhiễm ô.

 Đấng sư tử vương! Xin Ngài xuất hiện, tiến lên, hãy tiến lên.

            Đấng giác ngộ! Xin Ngài làm cho chúng sanh giác ngộ.

            Đấng có đầy đủ lòng từ! Chúng con muốn được thấy Ngài, lạy Ngài.Xin Ngài ban cho an vui hạnh phúc, mọi điều mong ước đều được thành tựu.

 Bậc thành tựu đệ nhất! Xin ban cho con thiền định an vui, sức mạnh vô cùng.

 Đấng thành tựu vĩ đại! Người mặc giáp đen, mình choàng da hổ, tay cầm hoa sen, tay cầm kim cang, tay cầm pháp loa giác ngộ mọi người, tay cầm tích trượng chiến đấu và cũng chiến thắng, bên tả thì có mãnh thú, bên hữu lại có sư tử trợ lực. Xin ban cho con an vui, hạnh phúc.

 Con xin quy y Phật, Pháp, Tăng, Tam bảo. Con xin quy y Bồ tát Quan Âm, tất cả ước mơ đều được thành tựu.

            Thật linh nghiệm, thần chú thật linh nghiệm, thần chú của Đấng toàn năng thật là linh nghiệm.

NAM MÔ ĐẠI BI QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT (3 lần)

TIÊU TAI KIẾT TƯỜNG THẦN CHÚ

Con xin quy mạng đảnh lễ chư Phật nói pháp thanh tịnh vi diệu.

Này Hư không! Hãy uống cạn tất cả họa tai, hãy làm sạch tất cả họa tai.

Này Sức nóng! Hãy phát hỏa, phát hỏa thiêu đốt tất cả họa tai, đốt sạch tai họa.

Này Tinh tú! Hãy xuất hiện, xuất hiện để tiêu trừ họa tai đen tối, làm cho bầu trời trong sáng, an lành, thật an lành.

NAM MÔ TIÊU TAI GIÁNG KIẾT TƯỜNG BỒ TÁT MA HA TÁT (3 lần)

TÁN HƯƠNG

Lò hương vừa bén gỗ chiên đàn

Khói thơm ngào ngạt khắp trần gian

Ba ngàn thế giới đều thanh tịnh

Mười phương chư Phật hiện thân vàng

NAM MÔ HƯƠNG VÂN CÁI BỒ TÁT MA HA TÁT (3 lần)

KHAI KINH

NAM  MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT (3 lần)

Kính lạy Đức Thế Tôn

Quy mạng mười phương Phật

Con nay phát đại nguyện

Thọ trì kinh Dược Sư

Trên đền bốn ơn nặng

Dưới cứu khổ tam đồ

Nếu có kẻ thấy nghe

Đều phát tâm Bồ đề

Khi mãn Báo thân này

Sanh vào các Tịnh độ.

NAM MÔ DƯỢC SƯ HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ TÁT (3 lần)

KINH DƯỢC SƯ

LƯU LY QUANG VƯƠNG NHƯ LAI

BỔN NGUYỆN CÔNG ĐỨC

            Tôi nghe như vầy, một thuở nọ Đức Phật châu du giáo hóa đến thành Quảng Nghiêm dưới cây tiếng nhạc, cùng với tám ngàn Tỳ kheo, ba vạn sáu ngàn Bồ tát, bát bộ Thiên long, người với quỷ thần, Bà la môn, cư sĩ, quốc vương, đại thần cung kính thỉnh Phật thuyết pháp.

            Bấy giờ Văn Thù Bồ tát nương Phật thần lực, quỳ gối chắp tay, hướng Phật, bạch rằng: “Bạch Đức Thế Tôn! Cúi xin nói rõ danh hiệu, bổn nguyện, công đức thù thắng của các Đức Phật, để cho mọi người theo đó tu hành, được sanh công đức và nêu gương tốt cho chúng đời sau”.

            Đức Phật liền bảo: “Hay thay, hay thay, Văn Thù Sư Lợi! Ông muốn Ta nói danh hiệu, bổn nguyện, công đức chư Phật cho chúng hữu tình khỏi bị nghiệp chướng buộc ràng, luôn được bình an trong đời Tượng pháp. Ông nên lóng nghe và suy nghĩ kỹ, ta sẽ vì ông mà nói”.

            Văn Thù Sư Lợi Bồ tát bạch rằng: “Chúng con muốn nghe. Cúi xin Thế Tôn mở lòng chỉ giáo”.

Đức Phật liền bảo: “Này Văn Thù Sư Lợi, từ đây hướng đến phương Đông cách mười muôn ức cõi nước chư Phật có một thế giới tên là Tịnh Lưu Ly; Giáo chủ cõi này là Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Như Lai. Mọi người tôn kính, vì Ngài biết rõ thật tướng các pháp, giải được mọi việc xảy ra trong đời và vượt khó khăn, làm Thầy Trời người, là bậc tôn quý. Khi còn tu hạnh Bồ tát, có phát Mười hai Đại nguyện khiến cho hữu tình cầu chi được nấy.

THỨ NHỨT: Ta nguyện đời sau, khi chứng Vô thượng Bồ đề, hào quang của Ta chiếu khắp vô lượng vô biên thế giới, khiến chúng hữu tình thấy ánh quang này, thân tâm thanh tịnh, đủ tướng trượng phu, siêng tu Lục độ, rời biển trần khổ, vào chốn Niết Bàn.

THỨ HAI: Ta nguyện đời sau, khi chứng Vô thượng Bồ đề, thân Ta như ngọc lưu ly, trong ngoài sáng suốt, tinh sạch hoàn toàn, hào quang rực rỡ chiếu khắp mười phương. Các chúng hữu tình ở nơi tăm tối cũng thấy thân Ta và được an lành, tùy tâm mãn nguyện.

THỨ BA: Ta nguyện đời sau, khi chứng Vô thượng Bồ đề, dùng trí phương tiện dạy chúng hữu tình khiến tin lẫn nhau, làm cho dân giàu nước mạnh.

THỨ TƯ: Ta nguyện đời sau, khi chứng Vô thượng Bồ đề, nếu có hữu tình tu theo tà đạo, thì Ta khiến họ trở về chánh đạo. Nếu theo nhị thừa, thì Ta khiến họ cầu Vô thượng giác.

THỨ NĂM: Ta nguyện đời sau, khi chứng Vô thượng Bồ đề, nếu có hữu tình ở trong giáo pháp tu hạnh thanh tịnh, thì Ta khiến họ đầy đủ Tam tụ tịnh giới. Nếu ai hủy phạm mà nghe danh Ta, tâm liền thanh tịnh, không đọa ác đạo.

THỨ SÁU: Ta nguyện đời sau, khi chứng Vô thượng Bồ đề, nếu có hữu tình thân hình hèn hạ, không đủ sáu căn, xấu xí, khờ khạo, tai điếc, mắt mù, nói năng ngọng liệu, tay chân tật nguyền, lác hủi, điên cuồng, chịu nhiều khổ não. Nghe được danh Ta, liền được khỏi bệnh, thân hình đoan chánh, trí huệ sáng suốt.

THỨ BẢY: Ta nguyện đời sau, khi chứng Vô thượng Bồ đề, nếu có hữu tình mang bệnh hiểm nghèo, không người cứu chữa, không chỗ cậy nhờ, nghèo cùng khốn khổ. Nghe được danh Ta, liền được khỏi bệnh, thân tâm thanh tịnh, quyến thuộc sum vầy.

THỨ TÁM: Ta nguyện đời sau, khi chứng Vô thượng Bồ đề, nếu có hữu tình mang thân phụ nữ chịu nhiều đau khổ, muốn cầu ra khỏi, nghe được danh Ta, thân tâm thanh tịnh, đủ tướng trượng phu, tiến đến Vô thượng Bồ đề.

THỨ CHÍN: Ta nguyện đời sau, khi chứng Vô thượng Bồ đề, nếu có hữu tình sa vào lưới ma, tà giáo ràng buộc, Ta dùng phương tiện khai thị cho họ, khiến khỏi đường mê, tu hạnh Bồ tát, chứng quả Vô thượng Bồ đề.

THỨ MƯỜI: Ta nguyện đời sau, khi chứng Vô thượng Bồ đề, nếu có hữu tình do vì vô minh phạm phải sai lầm, nên bị giam cầm, chịu nhiều đau khổ. Nghe được danh Ta, tất cả khổ ấy liền được tiêu trừ.

THỨ MƯỜI MỘT: Ta nguyện đời sau, khi chứng Vô thượng Bồ đề, nếu có người nào nghèo cùng, đói khát, vì cầu thức ăn mà tạo nghiệp ác. Nghe được danh Ta, chuyên lòng thọ trì, thì Ta khiến họ có đủ vật thực và dạy pháp Phật, khiến cho họ được Vô thượng Bồ đề.

THỨ MƯỜI HAI: Ta nguyện đời sau, khi chứng Vô thượng Bồ đề, nếu có người nào nghèo cùng hèn hạ, không có áo mặc, muỗi mòng cắn đốt, nóng lạnh dãi dầu. Nghe được danh Ta, chuyên lòng thọ trì, thì Ta khiến họ có đủ đồ dùng, y phục tốt đẹp, của báu dư thừa.

            “Lại này Văn Thù Sư Lợi! Công đức của Phật Dược Sư không thể nghĩ bàn. Vì thế các ông nên khuyên chúng sanh nguyện về cõi Tịnh của Phật Dược Sư. Vĩ cõi Phật ấy, đất bằng lưu ly, cây báu thẳng hàng cũng như Tịnh Độ của Phật Di Đà, là nơi hội ngộ của nhiều Bồ tát Nhứt sanh bổ xứ, dưới sự hướng dẫn của hai Bồ tát Nhựt Quang Biến Chiếu, Nguyệt Quang Biến Chiếu là bậc đại sĩ trợ tuyên chánh pháp của Phật Dược Sư.

            “Văn Thù Sư Lợi! Ở thế giới này lại có nhiều người không biết lành dữ, ôm lòng bỏn sẻn, thiếu hẳn đức tin, không ưa bố thí, tham lam, ích kỷ, cướp đoạt của người. Sau khi qua đời, sanh làm ngạ quỷ, đói khát, khổ sở, nhớ niệm danh hiệu của Phật Dược Sư, sanh lại làm người. Nhờ công đức ấy, nhớ khổ ngạ quỷ, nên hành bố thí, giúp kẻ nghèo cùng, tăng trưởng thiện căn, tu Bồ tát pháp.

“Lại nữa, trong đời ngũ trược, có kẻ phá giới, làm mất chánh kiến, khen mình, chê người, tôn thờ ác quỷ, làm bạn với ma, khi chết lại sa ác đạo. Nếu nghe danh hiệu của Phật Dược Sư, liền khỏi đường mê, bờ giác quay về, xuất gia học đạo, kính thờ Tam Bảo, học rộng nghe nhiều, thành tựu Lục độ cao siêu, chóng lên bờ giác.

 “Ở trường hợp khác, nếu bị kẻ ác nhờ cậy quỷ thần, hoặc là phù thủy, yếm đối trù ẻo, khổ sở vô cùng. Nếu tụng Dược Sư tiêu tai thần chú, thì kẻ hung dữ cũng phải hiền lành và phát lòng thành quy y Tam Bảo.

            “Nếu có Phật tử tu theo Tịnh độ pháp môn, nhưng chưa quyết tâm, đến lúc mạng chung mà nghe danh xưng NAM MÔ DƯỢC SƯ PHẬT, DƯỢC SƯ PHẬT, thì cũng sẽ được Văn Thù Sư Lợi Bồ tát, Quán Thế Âm Bồ tát, Đắc Đại Thế Bồ tát, Vô Tận Ý Bồ tát, Bảo Đàn Hoa Bồ tát, Dương Vương Bồ tát, Dược Thượng Bồ tát, Di Lặc Bồ tát, từ khắp mười phương chỉ lối đưa đường đến ao Thất bảo, sanh trong sen báu của Phật Di Đà, hoặc lên cõi trời, đời đời hưởng phước. Tuổi trời khi hết, sanh lại làm nhân gian, làm Chuyển luân vương, được người tôn kính. Bốn phương yên tĩnh, không có ác ma, khuyến hóa mọi nhà siêng tu thập thiện, ba nghiệp thanh tịnh, đủ tướng trượng phu.

            “Lại này Văn Thù Sư Lợi! Sau khi thành đạo, Đức Phật Dược Sư phát tâm đại từ, liền vào Chánh định, hóa Phật trên đỉnh, thuyết Đà la ni Thần chú Tiêu tai, khiến cho ba cõi bốn loài không còn những bệnh quái ác. Nếu chư Bồ tát sanh ở đời sau, gặp bệnh nan y, nên trì chú này vào bát nước sạch, không có vi trùng, cho bệnh nhân dùng, liền được khỏe mạnh. Bồ tát đa hạnh làm thuốc cứu người, phước nhiều vô lượng, hiện đời được người kính trọng; chết lại theo Phật Dược Sư, tinh tấn siêng tu, sẽ thành Vô thượng Chánh giác”.

 Bấy giờ Văn Thù Bồ tát xin Phật truyền bá kinh này, giải ách trừ tai, cứu đời mở đạo.

 Đức Phật lại bảo: “Nếu có người nào cúng dường cầu phước, thì trước phải tạo bảy tượng của Phật Dược Sư để trên tòa cao, rải hoa dâng hương, đốt đèn tục mạng. Giữ tâm thanh tịnh, không giận, không buồn, thương xót chúng sanh, khởi tâm cứu hộ. Luôn nhớ bổn nguyện công đức của Phật Dược Sư, đọc tụng, suy tư, dạy người làm phước, thì được công đức không thể nghĩ bàn.

 “Nếu ở thế gian, vượt núi băng ngàn, luôn gặp tai nạn, nước trôi, lửa cháy, quan lại hành hình, dưới biển cá kình, trên non hổ dữ, sư tử,độc xà, giặc giã khắp nơi, hết đường chạy thoát. Nhờ có căn lành đời trước, nên nhớ danh hiệu của Phật Dược Sư, trừ tai thần chú, nhiếp niệm thọ trì, tất cả tội này theo đây tan mất.

 “Nếu có Phật tử lỡ phạm cấm giới, sợ đọa tam đồ, kính trọng tôn thờ Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Như Lai. Nhờ công đức này, khỏi đường sanh tử.

 “Nếu có phụ nữ chịu khổ lúc sanh, sức lực tiêu tan, tưởng chừng phải chết. Nhờ phước đời trước, nghe được danh hiệu của Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Như Lai, liền hết khổ đau, hạ sanh mau lẹ, mẹ con bình an”.

 Phật hỏi A Nan có tin việc ấy? A Nan đứng dậy mà bạch Phật rằng: “Mặt trăng nóng lên, mặt trời lạnh lại, lời nói Như Lai không bao giờ sai. Nhưng chúng đời sau tánh hay tự cao, không tin lời Phật, sẽ bị đọa lạc ở chốn tam đồ”.

Bấy giờ, trong chúng hội này có một Bồ tát tên là Cứu Thoát quỳ gối chắp tay bạch với Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn! Sau khi Như Lai diệt độ, những người đau khổ, bệnh nặng, ốm gầy; bà con, bạn bè hết lòng cứu chữa, mà vẫn không khỏi, lại thấy sứ giả Diêm Ma sau khi kiểm tra đưa hồn về địa phủ đang chờ xét xử.

Nếu có Phật tử vì người bệnh này, rước đủ bảy Thầy, treo phan tục mạng, hết lòng cầu nguyện Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Như Lai. Thần thức người này có thể trở lại, nhớ rõ mọi việc ở chốn âm ty; cho nên từ đây siêng năng tu phước, dẫu sanh trong đời ngũ trược mà vẫn an lành”.

Bấy giờ, A Nan muốn hiểu rõ ràng về đèn cứu mạng cùng với thần phan, làm sao giải oan cho người đã chết.

Cứu Thoát Bồ tát bạch Đức A Nan, ở trong thế gian nếu có kẻ bệnh, muốn được bình an, tất cả người thân phải giữ tám phần trai giới, mở kho bố thí, cúng dường chúng Tăng, lập đàn treo phan tục mạng trước bảy hình tượng của Phật Dược Sư, bốn mươi chín ngày đêm đốt đèn bổn mạng.

Chư Tăng cầu nguyện, lễ Phật Dược Sư, giải ách trừ tai thần chú. Làm đủ việc ấy, bệnh khổ tiêu trừ.

Bấy giờ, A Nan nói mạng đã hết, làm sao không chết, mà được sống thêm?

Cứu Thoát Bồ tát thưa liền: “Thế Tôn có dạy chín loại hoạnh hồn, cho nên ta khuyên làm phan và đèn tục mạng, để khỏi tai nạn, được sống lâu dài. Chín thứ hoạnh này thật chưa hết số, nhưng vì quá khổ, nên phải chết oan.

 “Thứ nhứt, người bệnh không đủ thuốc thang, không người chăm sóc, bệnh không đáng chết mà phải qua đời. Thứ hai, những kẻ chơi bời, đam mê tửu sắc. Thứ ba, bị bắt, bị xử tử hình. Thứ tư, chết chìm. Thứ năm, chết cháy. Sáu, bị ác thú. Thứ bảy, rơi từ trên cao. Tám, bị khổ đau vì lầm thuốc độc. Thứ chín, mai một vì thiếu thức ăn, phải bị chết oan, nên làm hoạnh tử.

 “Lại nữa A Nan! Ở trên thế gian thường làm việc ác, Diêm vương xử phạt, nên giảm tuổi đời. Ta khuyên các người phóng sanh, tu phước, để được thọ mạng lâu dài”.

 Bấy giờ, trong chúng hội này, mười hai Dược Xoa đại tướng cùng với thần binh, tất cả phát tâm quy y Tam Bảo và nguyện vì đạo, cứu giúp người đời. Bất cứ nơi nào kinh này lưu bố, quyết lòng ủng hộ người trì kinh này thoát khỏi nạn tai, cầu chi được nấy.

Và trong lúc ấy, dùng chỉ năm màu gút tên ta vào, trì tụng trừ tai thần chú, ước nguyện đầy đủ, mới tháo dây ra. Tên của chúng ta là Cung Tỳ La đại tướng, Phạt Chiết La đại tướng, Mê Súy La đại tướng, An Để La đại tướng, Át Nể La đại tướng, San Để La đại tướng, Nhơn Đạt La đại tướng, Ba Di La đại tướng, Ma Hổ La đại tướng, Chơn Đạt La đại tướng, Chiêu Đổ La đại tướng, Tỳ Yết La đại tướng thường ở Ta bà.

Đức Phật Thích Ca liền khen mười hai Dược Xoa đại tướng cùng với thần binh cứu khổ độ sinh, đền ơn chư Phật.

A Nan lại bạch: “Kinh gọi tên gì, làm sao thọ trì, xin Phật chỉ bảo?”.

Thế Tôn dạy rõ kinh gọi Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Như Lai Bổn Nguyện Công Đức, hay Thập Nhị Thần Tướng Nhiêu Ích Hữu Tình Kết Nguyện Thần Chú, cũng gọi Bạt Trừ Nhứt Thiết Nghiệp Chướng, mà thọ trì.

Phật nói lời này, chư đại Bồ tát, bát bộ Thiên long, tất cả thế gian, Đại đức A Nan, tám ngàn Thánh Tăng đều rất vui mừng, tín thọ phụng hành.

DƯỢC SƯ QUÁN ĐẢNH CHƠN NGÔN

Nam mô bạt già phạt đế bệ sát xả, lủ rô thích lưu ly bác lặt bà hắc ra xà giả. Đát tha yết đa gia a ra ha đế tam miệu tam bột đà gia đát điệt tha. Án bệ sát thệ, bệ sát thệ, bệ sát xả, tam một yết đế tóa ha. (3 lần)

Giải kiết, giải kiết, giải oan kiết

Nghiệp chướng bao đời đều giải hết

Rửa sạch lòng trần phát tâm thành kính

Đối trước Phật đài, cầu xin giải kiết

Dược Sư Phật, Dược Sư Phật

Tiêu tai diên thọ Dược Sư Phật

Tùy tâm mãn nguyện Dược Sư Phật.

NAM MÔ DƯỢC SƯ HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ TÁT (3 lần)

Mười hai thần tướng đại Dược Xoa

Trợ tuyên Chánh pháp tại Ta bà

Thiên long Bát bộ đều tùy hỷ

Tà ma ngoại đạo phải tránh xa

NAM MÔ HỘ PHÁP CHƯ THIÊN BỒ TÁT MA HA TÁT (3 lần)

 Phục nguyện :

NAM MÔ DƯỢC SƯ HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ TÁT tác đại chứng minh

 Kính nguyện Phật Dược Sư giáng phước, Đức Di Lặc ban vui, Văn Thù khai cơ, Quan Âm thường cứu khổ. Vâng lời Phật Tổ, con mở hội Dược Sư, cầu mười hai Dược Xoa thần tướng phát tâm từ, xin Cứu Thoát Bồ tát thường gia hộ, khiến mọi người (bệnh nhân) hết khổ, cho quyến thuộc bình an. Nguyện tất cả thế gian đều trở thành Cực lạc.

 Nguyện ngày an lành, đêm an lành, đêm ngày sáu thời đều an lành. Xin nguyện Từ bi thường gia hộ.

 Nguyện ngày an lành, đêm an lành, đêm ngày sáu thời đều an lành. Xin nguyện Tam Bảo thường gia hộ.

 Nguyện ngày an lành, đêm an lành, đêm ngày sáu thời đều an lành. Nguyện chư Hộ Pháp thường ủng hộ.

TAM QUY

* Tự quy y Phật, xin nguyện chúng sanh, thể theo đạo cả, phát lòng vô thượng (1 lạy)

* Tự quy y Pháp, xin nguyện chúng sanh, thấu rõ kinh tạng, trí huệ như biển. (1 lạy)

* Tự quy y Tăng, xin nguyện chúng sanh,thống lý đại chúng, tất cả không ngại (1 lạy)

Nguồn gốc kinh Dược Sư:

Dẫn nhập vào kinh Dược Sư là do ngài Xá Lợi Phất thỉnh cầu Đức Phật thuyết giảng về những cách mà người đời sao nên làm để được lợi lạc.

Chúng ta thấy rằng, chỉ có Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là con người của lịch sử, có nguồn gốc rõ ràng còn những vị Phật khác như: Đức Phật A Di Đà, Dược Sư Lưu Ly hay Ngài Bồ Tát Quán Thế Âm,…đều là truyền thuyết qua lời kể lại của Đức Bổn Sư.

Tụng kinh là đọc một cách thành kính những lời Đức Phật đã dạy trong kinh điển, hợp với chân lý và căn cơ của chúng sanh.

Trì Chú là nắm giữ một cách chắc chắn lời bí mật của Chư Phật.

Các bài chú đều có oai thần và công đức không thể nghĩ bàn, dứt trừ được nghiệp chướng, tiêu tai giải nạn và tăng trưởng phước huệ.

Bên cạnh đó, các Phật tử tu tại gia hoàn toàn có thể thỉnh tượng Phật về bày trí trong nhà để hỗ trợ việc tụng kinh, niệm Phật hằng ngày của mình.

Tuỳ vào nguyện vọng, mong muốn và niềm tin của bản thân mà mỗi Phật tử có thể thỉnh tượng Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, tượng Đức Phật A di đà, Phật Bà Quan Thế Âm Bồ Tác, Địa Tạng Vương Bồ Tát Phật Di Lặc, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát..v..vv

Với thế mạnh là đội ngũ các điêu khắc gia tài năng được đào tạo từ Trường Đại học Mĩ thuật Thành phố Hồ Chí Minh cũng như nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực thiết kế, tạo hình tượng Phật . Điêu khắc Trần Gia đã, đang và sẽ đem lại sự hài lòng tuyệt đối đến với các khách hàng có nhu cầu thỉnh Tượng Phật để cúng dường hoặc bài trí trong chùa, nhà riêng, công ty, v..vv

Mời quý Phật tử cùng chiêm ngưỡng hết các mẫu tượng Phật đẹp nhất do điêu khắc Trần Gia tôn tạo nhé:


Mời các bạn hoan hỉ ngắm nhìn những mẫu tượng Phật đẹp của Trần Gia – Món quà cúng dường ý nghĩa năm 2020:

Tượng Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni

Hình ảnh Phật Bà Quan Thế Âm Bồ Tát đứng đài sen có ý nghĩa cứu khổ , cứu nạn, phổ độ chúng sinh ở cõi đời tràn đầy đau khổ.

Tượng Phật Di Lặc thường thể hiện niềm vui, sự hoan hỷ và hỷ xả, biểu trưng cho may mắn, phúc lộc và thịnh vượng no đủ.

Lòng tín niệm của các Phật tử cũng thể hiện qua câu chào “ A Di Đà Phật ” hàm chứa tính lễ độ và sự nhắc nhở nhau để thánh hóa tâm hồn mình, qua Hồng danh của Đức Phật A Di Đà.

Địa Tạng Vương Bồ tát được xem là vị Bồ tát của chúng sanh dưới địa ngục

Tượng Phật Văn Thù Sư Phổ Hiền Bồ Tát

 


Nhận xét tích cực từ  khách hàng của Tượng Phật Trần Gia:

 

Mời quý Phật tử cùng chiêm ngưỡng hết các mẫu tượng Phật đẹp nhất do điêu khắc Trần Gia tôn tạo nhé:


* Tượng Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni


* Tượng Phật Bà Quan Thế Âm Bồ Tát


* Tượng Phật Địa Tạng Vương Bồ Tát.


* Tượng Phật Văn Thù Sư Lợi – Phổ Hiền Bồ Tát .


* Tượng Phật A Di Đà.


* Tượng Đạt Ma Sư Tổ.


* Tượng Phật Di Lặc Bồ Tát.


* Tượng Tiêu Diện Đại Sĩ – Vi Đà Hộ Pháp.

Để tham khảo thêm nhiều hình ảnh, video về mẫu tượng Phật đẹp, được chạm khắc tỉ mẩn và tinh xảo khác nữa, đừng quên truy cập website, facebook hoặc liên hệ trực tiếp Tượng Phật Trần Gia để được nhận tư vấn bạn nhé!

 

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *